vsalogo

DỰ THẢO "CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH THỦY SẢN ĐẾN NĂM 2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2045"

Ngày đăng: 10/08/2020
Bộ Nông nghiệp và PTNT đang dự thảo Chiến lược phát triển ngành thủy sản đến năm 2030, định hướng đến năm 2045 và tham vấn ý kiến của các địa phương, doanh nghiệp và các ban ngành trung ương trước khi trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trước cuối năm 2020.

Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản (VIFEP) là đơn vị tư vấn xây dựng Dự thảo Chiến lược. Chiến lược đã được đưa ra lấy ý kiến rộng rãi tại các hội thảo tổ chức ở TP Nha Trang (chiều ngày 24/9/2020) và Hà Nội (sáng ngày 8/10/2020). Thứ trưởng Bộ NN&PTNT TS. Phùng Đức Tiến và Tổng Cục trưởng Tổng Cục Thủy sản TS. Trần Đình Luân chủ trì hai Hội thảo nói trên, với sự tham gia của đại diện Văn phòng Chính phủ, các bộ, ban, ngành hữu quan, lãnh đạo các tỉnh thành có biển, các hiệp hội doanh nghiệp, đông đảo chuyên gia thủy sản đại diện một số tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam. 

Nhiều kết quả nhưng cũng nhiều chỉ tiêu không đạt kế hoạch

Trong 10 năm qua, ngành Thủy sản thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế thủy sản đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt số 1690 QĐ/TTg ngày 16/9/2010. Mặc dù nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực thủy sản trong giai đoạn này còn rất ít ỏi, nhưng kết quả thực hiện đầu tư cơ bản đã đạt được các mục tiêu chương trình đề ra.

Cụ thể, năm 2019 tổng sản lượng thủy sản đạt 8,15 triệu tấn (trong đó: khai thác 3,77 triệu tấn, nuôi trồng 4,38 triệu tấn), chiếm 6,2% tổng sản lượng thủy sản Châu Á, 4,4% tổng sản lượng thủy sản toàn cầu. Giá trị xuất khẩu thủy sản năm 2019 đạt 8,6 tỷ USD, chiếm 5,5% giá trị xuất khẩu thủy sản thế giới và 20,8% kim ngạch xuất khẩu ngành nông nghiệp. Tốc độ tăng giá trị sản xuất thủy sản bình quân hàng năm đạt 6%. Một số chỉ tiêu vượt mục tiêu đề ra, như công suất cảng cá tăng thêm khoảng 352.000 tấn hàng qua cảng/năm, công suất neo đậu tăng thêm 24.900 tàu.

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhiều chỉ tiêu không đạt kế hoạch đã đặt ra. Thí dụ: năm 2020 kinh tế thủy sản chỉ đóng góp 24,4 % GDP ngành nông nghiệp (kế hoạch: 30- 35%); tốc độ tăng giá trị xuất khẩu chỉ đạt bình quân 4,4%/năm (kế hoạch: 8-10%/năm); tạo việc làm cho xã hội chỉ đạt 3,9 triệu lao động, có thu nhâp cao gấp 2,5 lần năm 2010 (kế hoạch: 5,0 triệu lao động, thu nhập đầu người cao gấp 3 lần năm 2010)...

Đặc biệt, nhiều cơ cấu trong ngành thủy sản vẫn bị mất cân đối nghiêm trọng, thí dụ cơ cấu sản lượng giữa nuôi trồng và khai thác, giữa cường lực đội tàu khai thác  và trữ lượng nguồn lợi, giữa khai thác gần bờ và xa bờ, giữa khai thác với cơ sở dịch vụ hạ tầng, giữa khai thác và nuôi biển, giữa công suất hệ thống nhà máy chế biến với khả năng cung ứng nguyên liệu,...

Toàn cảnh cuộc Hội thảo tổ chức ở Hà Nội, ngày 08/10/2020

Báo cáo cũng chỉ ra những nguyên nhân của tình trạng nói trên, trong đó có nguyên nhân hạn chế về thể chế, luật pháp và chính sách, như việc sáp nhập Bộ Thủy sản vào Bộ Nông nghiệp là chuyển từ quản lý nhà nước chuyên ngành sang đa ngành, nhưng thể chế “quản lý đa ngành” lại không được thiết kế, không có tiêu chí xác định rõ nội hàm quản lý. Tổ chức sản xuất thủy sản luôn được xác định theo chuỗi giá trị trong khi tổ chức của bộ máy quản lý Nhà nước lại bị cắt khúc máy móc theo hành chính, dẫn đến sự chồng chéo chức năng nhiệm vụ giữa các cơ quan thuộc Bộ và Tổng Cục, giữa Bộ Nông nghiệp và Bộ Công Thương, Bộ Tài nguyên & Môi trường,...

Ngành thủy sản hiện đang gặp vô vàn khó khăn, như thiếu vùng neo đậu tàu thuyền, luồng lạch bồi lắng không đảm bảo yêu cầu an toàn, không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; thiếu hệ thống xử lý môi trường, hạ tầng không đồng bộ; công nghệ bốc dỡ, vận chuyển, bảo quản, chế biến sản phẩm khai thác tại các cảng lạc hậu, tổn thất sau thu hoạch còn rất cao,...

Ông Võ Thiên Lăng (Chủ tịch Hội Nghề cá Khánh Hòa) cho rằng, Tổng cục Thủy sản nên phối hợp các doanh nghiệp để tổ chức hội nghị nhằm đảm bảo đầu ra và nâng cao chất lượng cho cá ngừ đại dương. Theo ông Lăng, đã là cảng cá thì phải có trung tâm đấu giá, ở các nước trên thế giới đã có trung tâm đấu giá. Tuy nhiên, ở Việt Nam không thấy khoa nào đào tạo vấn đề đấu giá.

Đại diện Trường Đại học Nha Trang cho biết, trong những năm vừa qua trường đã đào tạo các nguồn nhân lực trong lĩnh vực chế biến, khai thác, nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, thực trạng thu hút  các sinh viên trong lĩnh vực này rất khó. Ông Quảng Trọng Thao (Phó Giám đốc Sở NNPTNT Kiên Giang) cho rằng, trong chiến lược cần xây dựng mối liên kết giữa người sản xuất và doanh nghiệp xuất khẩu, trong đó doanh nghiệp phải là đầu tàu để dẫn dắt sản xuất với hàng hóa lớn. Hiện nay nhiều nơi mạnh ai nấy làm thì không hiệu quả.

Ông Kim Văn Tiêu (Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia) cho biết, vấn đề lo nhất hiện nay là đầu ra của sản phẩm, do đó giải pháp thị trường, tiếp thị, quảng bá, giới thiệu cần được coi trọng. Theo ông Tiêu, trong chiến lược cần bổ sung nuôi tôm kháng bệnh và thích ứng biển đổi khí hậu.  “Hiện  nay  đã có doanh nghiệp giới thiệu giống của họ thích ứng với cái rét của miền Bắc. Do đó, chúng ta cần bổ sung vào đề án để tăng hiệu quả nuôi biển”.

PGS. TS. Nguyễn Hữu Dũng (Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam) cho rằng, trong 10 năm qua, lĩnh vực thủy sản đã bị dậm chân tại chỗ, điều đó thể hiện rõ nhất trong kim ngạch xuất xuất khẩu thủy sản có thời điểm đạt đỉnh 8,9 tỷ/năm, nay giảm còn 8,3-8,6 tỷ, trước hết là việc chúng ta đã không đổi mới đủ nhanh tổ chức lực lượng sản xuất so với tình hình, trong khi năng lực quản lý Nhà nước của ngành ở cả trung ương và địa phương đã bị suy yếu nghiêm trọng, thậm chí là “tê liệt” trong thời gian “bị hẫng” từ năm 2007 đến 2010, khi suốt 4 năm không có Tổng Cục Thủy sản (thành lập 2010) sau khi Bộ Thủy sản bị sáp nhập (2007). Về quan điểm chiến lược, chúng ta đã quá kéo dài sự phát triển tự phát của “nghề cá nhân dân”, đem tư duy tiểu nông thuần túy áp dụng cho nghề cá, trong khi ngành Thủy sản phải là ngành sản xuất được tổ chức theo hướng công nghiệp. Ông Dũng cũng nêu nhận xét đáng buồn là 5 Viện nghiên cứu và 4 hiệp hội doanh nghiệp ngành thủy sản cũng không hợp tác với nhau trong hành động.

Có rất nhiều ý kiến tham vấn cho Dự thảo, nhìn chung đều đồng tình với việc phải phát triển thủy sản theo hướng công nghiệp. Tuy nhiên, để xây dựng được chiến lược này toàn diện, thực tế và tính khả thi thì việc cần có sự chung tay, cộng hưởng của tất cả các bộ, ban ngành từ trung ương đến địa phương có liên quan. Trong đó, dự thảo về chiến lược phát triển thủy sản cần xác định lại nguồn lực, chứ không chỉ tập trung vào chỉ tiêu, bởi dư địa của chúng ta về tiềm năng nuôi biển và thị trường tiêu thụ còn rất lớn. Bên cạnh đó, trong chiến lược cùng cần xây dựng mối liên kết giữa người sản xuất và doanh nghiệp xuất khẩu với nhau, chứ hiện nay nhiều nơi mạnh ai nấy làm thì không hiệu quả. Do đó, doanh nghiệp phải là đầu tàu để dẫn dắt sản xuất với hàng hóa lớn. Nội dung trong chiến lược còn dàn trải, không biết phải bắt đầu từ đâu và chọn hướng nào. Do vậy, dự thảo cần có điều tra căn cứ và nhìn nhận lại lộ trình phát triển 10 năm về trước để nhận định cho lộ trình trong tương lai một cách khoa học, có căn cứ, mục tiêu rõ ràng, cụ thể để đột phá.

Bên cạnh đó, dự thảo phải đưa ra được những tiên đoán và đưa ra kịch bản cụ thể về biến đổi khí hậu, ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 đến năng suất, sản lượng xuất khẩu.

Thứ trưởng Phùng Đức Tiến khẳng định nước ta rất nhiều tiềm năng nuôi biển công nghiệp.

Đến năm 2030, xuất khẩu thủy sản đạt 18-20 tỷ USD

Theo dự thảo Chiến lược, ngành thủy sản sẽ phát triển theo hướng công nghiệp, từng bước hiện đại hóa, máy móc sẽ thay thế lao động chân tay. Chính vì vậy, số 3,9 triệu lao động tại thời điểm hiện tại sẽ giảm xuống còn 3,5 triệu vào năm 2030 và đến năm 2045 sẽ chỉ còn 3,0 triệu lao động.

Đến năm 2030, kinh tế thủy sản sẽ đóng góp 28-30% GDP ngành nông nghiệp. Tổng sản lượng thủy sản đạt 10 triệu tấn, trong đó sản lượng khai thác thủy sản khoảng 25- 30%, sản lượng nuôi trồng thủy sản khoảng 70-75%. Giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 18-20 tỉ USD. Trong đó xuất khẩu tại chỗ, thông qua du lịch và khách quốc tế khoảng 1,3 tỉ USD. 100% cơ sở sản xuất kinh doanh thủy sản bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm và các quy chuẩn bảo vệ môi trường.

Trong lĩnh vực khai thác thủy sản, đảm bảo phát triển khai thác vùng khơi hiệu quả, bền vững trên cơ sở trữ lượng nguồn lợi thủy sản; xây dựng cơ cấu thuyền nghề, phân bổ hạn ngạch khai thác hải sản phù hợp; thực hiện quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm, chống đánh bắt bất hợp pháp. Tổ chức lại hoạt động khai thác hải sản vùng lộng, ven bờ và khai thác thủy sản nội địa hợp lý. Trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, phát triển đồng thời cả nuôi và trồng hiệu quả với các đối tượng phù hợp hệ sinh thái trên từng loại hình mặt nước. Tập trung nguồn lực vốn, khoa học công nghệ tiên tiến và cán bộ kỹ thuật trình độ cao, phát triển các mô hình nuôi công nghiệp tiên tiến với các đối tượng chủ lực, tạo khối lượng sản phẩm hàng hóa xuất khẩu lớn, giá trị cao với các biện pháp bảo vệ môi trường nghiêm ngặt; gắn phát triển sinh kế của cộng đồng ngư dân với phát triển nuôi trồng thủy sản và du lịch sinh thái...... 

Về chế biến và thương mại thủy sản, chuyển dịch cơ cấu sản phẩm hợp lý theo hướng chế biến sâu, chế biến tinh, nâng cao chất lượng và tỷ trọng các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, hạn chế thấp nhất việc sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm thô...

Ngành thủy sản phải đảm bảo mục tiêu bảo vệ môi trường sống của các loài thủy sản; củng cố, mở rộng, thành lập mới các khu bảo tồn biển, khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản, đảm bảo diện tích các khu bảo tồn biển, bảo vệ nguồn lợi thủy sản ven biển, phục hồi các hệ sinh thái biển đạt 6% diện tích biển Việt Nam; thực hiện lưu giữ giống gốc, bảo tồn gen các loài thủy sản đặc hữu, có giá trị kinh tế, các loài nguy cấp, quý hiếm, định kỳ thả giống tái tạo, phát triển nguồn lợi thủy sản....

Mục tiêu phát triển ngành thủy sản cũng đề ra định hướng phát triển theo vùng như: Đồng bằng sông Hồng; Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung; Đông Nam Bộ; ĐBSCL; vùng miền núi, trung du phía Bắc và Tây Nguyên. với định hướng phát triển ngành thủy sản hiệu quả, phù hợp, tận dụng được ưu thế của từng vùng miền....

Việt Nam đang xây dựng tiền đề để phát triển thủy sản theo hướng bền vững. Ảnh: Vũ Long

Nuôi biển công nghiệp - đột phá phát triển thủy sản trong 10 năm tới

Đó là ý kiến được nhiều đại biểu đồng tình tại hội thảo xây dựng “Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến 2030, tầm nhìn 2045” diễn ra ngày 8/10/2020, tại Hà Nội.

Thứ trưởng Phùng  Đức  Tiến  đánh giá: “Tiềm năng nuôi biển của chúng ta rất lớn với chiều dài bờ biển 3.260km, rộng 1 triệu km2. Và theo khảo sát sơ bộ, chúng ta có khoảng 500.000 km2 có thể phát triển nuôi biển. Tuy nhiên, hiện nay nuôi biển mới chỉ ở giai đoạn phôi thai, nuôi gần bờ là chính, lồng bè cũng đơn giản,  sơ sài. Việc nghiên cứu sản xuất con giống cũng còn hạn chế, chưa được nghiên cứu, sản xuất theo quy trình, công nghệ cao”.

PGS.TS Nguyễn Hữu Dũng (Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam) cho rằng, để đẩy mạnh phát triển ngành thủy sản, cần có điểm đột phá. Đột phá  dựa  vào  đầu  tư khoa học công nghệ là đương nhiên, nhưng cần phải xác định thật rõ mục tiêu đầu tư, vì mỗi quốc gia chỉ có thể có một nhóm sản phẩm chiến lược chứ không phải tất cả. Ông Dũng cho rằng, trọng tâm đột phá phát triển thủy sản trong 10 năm tới phải là nuôi biển. “Đây chính là dư địa lớn nhất còn lại của thủy sản trong thời gian tới, nếu không phát triển lĩnh vực này, chúng ta chắc chắn sẽ không có được sự đột phá trong thủy sản”, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam nhấn mạnh.

Ông Dũng nhận định, đã đến thời kỳ phải phát triển nuôi biển công nghiệp. Việc ứng dụng công nghệ 4.0 trong nuôi biển công nghiệp giúp quản lý hiệu quả, giảm rủi ro, tăng năng suất chất lượng, chủ động thích ứng với biến  đổi khí hậu và bền vững hơn. Bên cạnh việc đổi mới phương thức xây dựng chuỗi giá trị nuôi biển trong nội ngành, cần tận dụng năng lực của các ngành kinh tế biển khác như dầu khí, du lịch, đóng tàu, năng lượng tái tạo, để phát triển nuôi biển công nghiệp. Nuôi biển phát triển còn kéo theo sự hình thành và phát triển những ngành công nghiệp phụ trợ mới, đặc biệt là lĩnh vực hậu cần, thức ăn chăn nuôi hải sản, qua đó góp phần tạo thêm việc làm và sinh kế mới, tăng thu nhập cho người dân, đảm bảo an sinh xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo và đặc biệt là góp phần bảo vệ an ninh quốc phòng, biển đảo của Tổ quốc.

Kết luận tại hội thảo, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến cho biết, trước khi trình Chính phủ, Bộ Nông nghiệp & PTNT sẽ tiếp tục tiếp thu các ý kiến góp ý của các bộ, ngành, địa phương và các ý kiến góp ý tại các hội thảo để hoàn thiện dự thảo Chiến lược đảm bảo tính thời sự, gắn với thực tế, đưa ngành thủy sản phát triển bền vững trong giai đoạn mới.

H.V. tổng hợp

Bạn cần đăng nhập để bình luận