An Giang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, mở hướng phát triển nuôi biển bền vững

Sở hữu lợi thế biển, đảo rộng lớn, An Giang đang đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong nuôi trồng thủy sản, hướng đến nâng cao năng suất, chất lượng.

Công nghệ mở hướng nâng tầm nuôi biển

Sau sáp nhập, An Giang có thêm không gian phát triển kinh tế biển với nhiều lợi thế về diện tích mặt nước, đường bờ biển và hệ thống đảo. Đây là điều kiện thuận lợi để tỉnh khai thác tiềm năng nuôi trồng thủy sản, nhất là nuôi biển theo hướng quy mô lớn, hiện đại và bền vững. Trong đó, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng sức cạnh tranh và đáp ứng yêu cầu thị trường.

Khu vực nuôi cá lồng bè trên biển tại An Giang với hàng trăm lồng nuôi được bố trí ven các đảo, tạo sinh kế và nguồn thu nhập cho người dân địa phương. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Khu vực nuôi cá lồng bè trên biển tại An Giang với hàng trăm lồng nuôi được bố trí ven các đảo, tạo sinh kế và nguồn thu nhập cho người dân địa phương. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

Theo ông Trần Thanh Hiệp, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, phát triển nuôi biển là hướng đi quan trọng để khai thác hiệu quả tiềm năng biển, đảo, nâng cao giá trị ngành thủy sản và tạo sinh kế ổn định cho người dân. Yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới là nâng cao năng lực công nghệ, tổ chức lại sản xuất, quản lý vùng nuôi bằng dữ liệu, đồng thời gắn tăng trưởng với bảo vệ môi trường và thị trường tiêu thụ.

An Giang hiện có vùng biển rộng khoảng 63.290 km², bờ biển dài trên 200 km cùng hơn 140 hòn đảo lớn, nhỏ. Các khu vực Phú Quốc, Kiên Hải, Bà Lụa, Hải Tặc, Thổ Châu và vùng ven biển từ giáp Cà Mau đến Hà Tiên tạo không gian phát triển đa dạng, thuận lợi cho nuôi cá biển lồng bè, nhuyễn thể, trai ngọc và nhiều đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế cao.

Nhiều khu vực biển quanh đảo tương đối kín gió, phù hợp với các đối tượng hải sản nhiệt đới. Tuy nhiên, khai thác lợi thế này phải gắn với phân vùng khoa học, kiểm soát sức tải môi trường, bố trí mật độ lồng bè phù hợp và hài hòa với bảo tồn hệ sinh thái, du lịch, giao thông hàng hải.

Giai đoạn 2021-2025 và ước thực hiện năm 2026, nuôi biển tại An Giang tiếp tục phát triển. Tổng sản lượng tăng từ 69.269 tấn năm 2021 lên khoảng 133.000 tấn năm 2026. Số lồng nuôi cá tăng từ 3.612 lên khoảng 6.115 lồng, diện tích nuôi nhuyễn thể tăng từ 20.203 ha lên 24.950 ha. Riêng nghề nuôi trai cấy ngọc nhân tạo tại Phú Quốc duy trì khoảng 300 ha, sản lượng khoảng 350.000 viên mỗi năm.

Việc ứng dụng công nghệ, cải tiến vật liệu lồng nuôi và quy trình kỹ thuật góp phần nâng cao năng suất, giảm rủi ro và phát triển nuôi biển bền vững. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Việc ứng dụng công nghệ, cải tiến vật liệu lồng nuôi và quy trình kỹ thuật góp phần nâng cao năng suất, giảm rủi ro và phát triển nuôi biển bền vững. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

Điểm đáng chú ý trong quá trình chuyển đổi là việc đưa vật liệu HDPE vào sản xuất lồng nuôi biển. Đến nay, tỉnh đã hỗ trợ 117 lồng nuôi bằng vật liệu này, đồng thời triển khai các mô hình nuôi cá mú trân châu, cá bớp, cá chim vây vàng đạt chứng nhận VietGAP.

Kết quả mô hình cho thấy năng suất có thể cao hơn 1,5 - 2 lần so với lồng truyền thống trên cùng đối tượng. Lồng HDPE có độ bền, khả năng chịu sóng gió tốt, thích ứng với điều kiện nuôi xa bờ và góp phần giảm thiểu rủi ro trong sản xuất.

Cùng với đổi mới công nghệ lồng nuôi, tỉnh chú trọng nghiên cứu, chuyển giao kỹ thuật từ khâu sản xuất giống đến nuôi thương phẩm. Giai đoạn 2021 - 2026, An Giang triển khai 10 đề tài, dự án khoa học và công nghệ với tổng kinh phí 18,4 tỷ đồng, tập trung vào các đối tượng như ghẹ xanh, ốc hương, vẹm xanh, cá ngựa và cá bè quỵt.

Những kết quả trên cho thấy khoa học công nghệ đang từng bước đi vào thực tiễn sản xuất. Việc áp dụng quy trình nuôi tiên tiến, kiểm soát môi trường và nâng cao chất lượng con giống góp phần tạo ra sản phẩm đồng đều, đáp ứng yêu cầu an toàn thực phẩm và tiêu chuẩn của thị trường xuất khẩu.

Mô hình nuôi cá biển lồng bè thương phẩm tại An Giang, nơi tỉnh đang triển khai ứng dụng khoa học kỹ thuật và vật liệu mới nhằm nâng cao năng suất, chất lượng. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Mô hình nuôi cá biển lồng bè thương phẩm tại An Giang, nơi tỉnh đang triển khai ứng dụng khoa học kỹ thuật và vật liệu mới nhằm nâng cao năng suất, chất lượng. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

Chuyển đổi số tạo động lực phát triển chuỗi giá trị

Cùng với ứng dụng công nghệ trong sản xuất, An Giang đang mở rộng thu hút doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nuôi biển công nghệ cao. Đến nay, tỉnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư cho 5 doanh nghiệp với tổng diện tích hơn 2.908 ha, tổng vốn đầu tư khoảng 1.116 tỷ đồng.

Đáng chú ý, dự án nuôi biển công nghệ cao của Công ty TNHH Thủy sản Australis Việt Nam tại Kiên Hải đã được UBND tỉnh giao 420 ha mặt nước, tổng vốn đầu tư 400 tỷ đồng, công suất thiết kế 30.000 tấn cá mỗi năm. Dự án được kỳ vọng thúc đẩy sản xuất quy mô công nghiệp, tăng cường liên kết công nghệ, dịch vụ hậu cần và thị trường tiêu thụ.

Theo Quyết định số 2864/QĐ-UBND ngày 22/6/2026, tỉnh đã ban hành danh mục thu hút đầu tư giai đoạn 2026 - 2030, trong đó có 8 dự án nuôi biển ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, với tổng diện tích 2.480 ha, vốn kêu gọi đầu tư khoảng 1.730 tỷ đồng.

Theo ông Trần Thanh Hiệp, một trong những yêu cầu quan trọng hiện nay là tổ chức lại không gian nuôi biển, hình thành các vùng sản xuất tập trung, đủ điều kiện ứng dụng công nghệ cao và phát triển hàng hóa quy mô lớn. Việc quản lý vùng nuôi cần gắn mã số nhận diện cơ sở nuôi với bản đồ số, cơ sở dữ liệu dùng chung và truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Sản phẩm cá bớp thương phẩm đạt chuẩn chất lượng sau quá trình nuôi trồng ứng dụng quy trình kỹ thuật tiên tiến và tiêu chuẩn VietGAP tại địa phương. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Sản phẩm cá bớp thương phẩm đạt chuẩn chất lượng sau quá trình nuôi trồng ứng dụng quy trình kỹ thuật tiên tiến và tiêu chuẩn VietGAP tại địa phương. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

Tỉnh định hướng khuyến khích người nuôi sử dụng nhật ký điện tử, quản lý chi phí, năng suất và chất lượng. Từng bước ứng dụng cảm biến, trí tuệ nhân tạo, công nghệ viễn thám và dữ liệu lớn để giám sát tài nguyên biển, quan trắc môi trường, dự báo thiên tai và dịch bệnh. Qua đó, giúp người nuôi chủ động trước biến động môi trường, hạn chế thiệt hại, tối ưu chi phí. Đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp kiểm soát chất lượng và đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc của thị trường.

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi vẫn còn nhiều khó khăn. Việc thay thế lồng nuôi truyền thống bằng lồng HDPE còn chậm do chi phí đầu tư lớn, sản xuất phân tán, liên kết giữa hộ nuôi, HTX và doanh nghiệp chưa chặt chẽ. Bên cạnh đó, thủ tục giao khu vực biển, cơ chế lựa chọn nhà đầu tư và chính sách hỗ trợ chuyển đổi công nghệ cần tiếp tục được tháo gỡ.

Trước thực tế này, ngành nông nghiệp An Giang xác định tiếp tục hoàn thiện phân vùng nuôi biển, tạo cơ sở thu hút đầu tư; ưu tiên nghiên cứu con giống chất lượng cao, dinh dưỡng thức ăn, lồng nuôi thích ứng sóng gió và mô hình nuôi đa tầng dinh dưỡng IMTA. Đồng thời, khuyến khích người dân, doanh nghiệp áp dụng các tiêu chuẩn VietGAP, ASC, BAP, GlobalGAP nhằm nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm.

Đến năm 2030, An Giang phấn đấu đạt tổng sản lượng nuôi biển 250.000 tấn hải sản và 520.000 viên ngọc trai; phát triển 14.000 lồng nuôi, trong đó khoảng 6.600 lồng ứng dụng công nghệ cao. Sản lượng cá lồng bè hướng tới 99.000 tấn, diện tích nuôi nhuyễn thể khoảng 26.900 ha, sản lượng 151.000 tấn.

Người dân khoe thành quả nuôi trồng với cá chim vây vàng là một trong những đối tượng nuôi biển có giá trị kinh tế cao được tỉnh chú trọng phát triển. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.
Người dân khoe thành quả nuôi trồng với cá chim vây vàng là một trong những đối tượng nuôi biển có giá trị kinh tế cao được tỉnh chú trọng phát triển. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

Để hiện thực hóa mục tiêu, tỉnh tập trung tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư đã được chấp thuận chủ trương và những dự án thuộc danh mục kêu gọi đầu tư. Khi triển khai, các dự án dự kiến bổ sung gần 5.000 ha nuôi biển công nghệ cao, tổng vốn đầu tư gần 2.850 tỷ đồng, đóng góp hơn 150.000 tấn sản phẩm và hơn 1 triệu viên ngọc trai mỗi năm.

Bên cạnh đó, tỉnh chú trọng khai thác hệ thống cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão và sớm đưa khu hậu cần nuôi biển diện tích 25 ha tại đảo Nam Du vào vận hành. Đây là điều kiện quan trọng để hỗ trợ sản xuất, bảo quản, vận chuyển sản phẩm và giảm chi phí trong chuỗi giá trị.

An Giang cũng định hướng gắn phát triển nuôi biển với chuyển đổi nghề khai thác thủy sản, bảo vệ nguồn lợi tự nhiên và tạo sinh kế lâu dài cho ngư dân. Việc đào tạo nhân lực kỹ thuật, hỗ trợ người dân tiếp cận công nghệ mới, kết hợp nuôi biển với du lịch sinh thái sẽ góp phần mở rộng việc làm, nâng cao thu nhập cho cộng đồng ven biển, hải đảo.

popup

Số lượng:

Tổng tiền:

Email Gọi ngay Facebook
Facebook Chat Icon Xin chào!
Mình có thể giúp gì bạn
hiephoinuoibienvietnam