Việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo vừa hoàn thiện công cụ quản lý, vừa coi biển là không gian phát triển chiến lược, tạo động lực cho tăng trưởng xanh, bền vững.
Đặc biệt, nhiều chính sách mới đang được nghiên cứu như cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển, cải cách thủ tục hành chính theo hướng một đầu mối, tăng cường phân cấp cho địa phương, xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đặc thù, vượt trội để thúc đẩy phát triển mạnh mẽ các hoạt động kinh tế trên biển, hải đảo.
Trong cuộc trao đổi với Báo Nông nghiệp và Môi trường, ông Nguyễn Thanh Tùng, Phó Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam đã chia sẻ những định hướng lớn của lần sửa đổi được kỳ vọng sẽ mở rộng dư địa phát triển, khơi thông nguồn lực và nâng cao hiệu quả quản trị biển trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện “luật chơi” trên biển
Thưa ông, sau khi tổng kết gần 10 năm thực thi Luật Tài nguyên, môi trường biển và Hải đảo, các vấn đề nào được đặt ra trong lần sửa đổi này?
Trên cơ sở tổng kết gần 10 năm thi hành Luật và đánh giá những yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, chúng tôi đang tập trung nghiên cứu, đề xuất bốn nhóm chính sách lớn về quản lý, sử dụng không gian biển; quyền, nghĩa vụ của chủ thể sử dụng khu vực biển; kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ môi trường, hệ sinh thái biển và hải đảo; cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đặc thù, vượt trội để thúc đẩy phát triển mạnh mẽ các hoạt động kinh tế trên biển, hải đảo.
Quản lý và sử dụng không gian biển là nội dung đóng vai trò "nền móng", xác lập trật tự pháp lý, xóa bỏ sự chồng lấn và phân định rõ trách nhiệm trong quản lý không gian biển, hình thành đầy đủ các công cụ pháp lý về giao, cho thuê, đăng ký khu vực biển, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển, xử lý xung đột trong sử dụng không gian biển và triển khai hiệu quả Quy hoạch không gian biển quốc gia; bảo đảm mọi hoạt động khai thác, sử dụng biển phải đặt trong khuôn khổ quy hoạch, quốc phòng, an ninh, chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển.
Việc hoàn thiện quy định về quyền, nghĩa vụ của chủ thể sử dụng khu vực biển nhằm tạo lập “luật chơi” minh bạch để các tổ chức, cá nhân yên tâm đầu tư, xác lập địa vị pháp lý rõ ràng cho chủ thể sử dụng biển gắn liền với nghĩa vụ, trách nhiệm phải thực hiện. Theo đó, từng bước hình thành chế định pháp lý đầy đủ hơn về các quyền, dự kiến quy định cho phép tổ chức, cá nhân được giao, cho thuê khu vực biển thực hiện một số quyền như chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn, thế chấp quyền sử dụng khu vực biển và tài sản gắn liền với khu vực biển trong những trường hợp, điều kiện cụ thể, gắn với cơ chế kiểm soát chặt chẽ.
Nhóm chính sách kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ môi trường, hệ sinh thái biển và hải đảo hướng tới chuyển mạnh từ xử lý ô nhiễm sang phòng ngừa từ nguồn, quản lý rủi ro, kiểm soát ô nhiễm từ đất liền ra biển, ô nhiễm từ hoạt động trên biển, rác thải biển, rác thải nhựa đại dương; đồng thời hoàn thiện cơ chế cải thiện, phục hồi môi trường, bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu, bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học biển, phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Chính sách này đóng vai trò "màng lọc" bảo vệ, thiết lập các hàng rào kỹ thuật và pháp lý để kiểm soát ô nhiễm, bảo tồn hệ sinh thái, xây dựng “lá chắn xanh” bền vững và hội nhập quốc tế.
"Quản lý chặt chẽ để phát triển bền vững, ưu đãi vượt trội, đột phá để thúc đẩy kinh tế, bảo vệ môi trường để giữ vững lợi ích quốc gia lâu dài trên biển", ông Nguyễn Thanh Tùng nói.
Xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đặc thù, vượt trội để thúc đẩy phát triển mạnh mẽ các hoạt động kinh tế trên biển, hải đảo là nhóm chính sách mang tính “động lực”, nhằm khơi thông nguồn lực, thu hút đầu tư tư nhân, đầu tư chiến lược, đầu tư dài hạn vào các ngành kinh tế biển mới, các mô hình phát triển mới, các dự án quy mô lớn, hạ tầng dùng chung, hạ tầng lưỡng dụng, công trình trên biển, đảo nhân tạo, nuôi biển công nghệ cao, logistics biển, công nghệ biển, kinh tế biển xanh, kinh tế tuần hoàn và kinh tế carbon thấp; qua đó góp phần hình thành các cực tăng trưởng mới từ biển, hải đảo, kích hoạt sức mạnh kinh tế, đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
Bốn nhóm chính sách nêu trên được tiếp cận theo phương thức quản lý tổng hợp, có sự thống nhất, hỗ trợ lẫn nhau, tạo thành một chỉnh thể hệ sinh thái quản trị biển hiện đại, vận hành theo logic xuyên suốt từ khâu xác lập không gian đến thúc đẩy phát triển bền vững.
Một trong những đề xuất đáng chú ý của dự thảo Luật là cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển. Thưa ông, vì sao chính sách này lại được kỳ vọng sẽ tạo ra thay đổi lớn đối với người dân và doanh nghiệp đầu tư trên biển?
Đây là một trong những nội dung mới đang được nghiên cứu trong quá trình đề xuất chính sách của Luật.
Hiện nay, tổ chức, cá nhân được giao khu vực biển chủ yếu mới có quyền sử dụng khu vực biển; chưa có các quyền như chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn, thế chấp quyền sử dụng khu vực biển và tài sản gắn liền với khu vực biển.
Việc nghiên cứu đề xuất xây dựng cơ chế đăng ký và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển sẽ góp phần tạo lập sự minh bạch, ổn định và an toàn pháp lý cho các nhà đầu tư. Khi quyền sử dụng được xác lập rõ ràng, doanh nghiệp có thể yên tâm đầu tư dài hạn, đặc biệt đối với những dự án có quy mô lớn, thời gian thu hồi vốn dài như nuôi biển công nghệ cao, cảng biển hay hạ tầng dịch vụ biển.
Đối với người dân, nhất là các tổ chức, cá nhân tham gia nuôi trồng thủy sản trên biển, chính sách này sẽ giúp bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp trong quá trình khai thác, sử dụng khu vực biển được giao.
Xa hơn, đây còn là cơ sở để Nhà nước quản lý hiệu quả hơn việc phân bổ không gian biển, hạn chế tình trạng chồng lấn, tranh chấp và tạo điều kiện phát triển thị trường quyền sử dụng khu vực biển theo hướng công khai, minh bạch trong tương lai.
Nhiều doanh nghiệp phản ánh việc triển khai các dự án trên biển hiện vẫn phải thực hiện qua nhiều cơ quan, nhiều thủ tục khác nhau. Dự thảo Luật sẽ tháo gỡ những vướng mắc này như thế nào, thưa ông?
Quan điểm xuyên suốt của quá trình sửa đổi luật lần này là cải cách thực chất chứ không chỉ đơn thuần cắt giảm về mặt hình thức.
Chúng tôi đang nghiên cứu chuyển từ mô hình nhiều đầu mối giải quyết thủ tục sang mô hình một đầu mối ở cả Trung ương và địa phương đối với các dự án đầu tư trên biển. Theo tính toán sơ bộ, một dự án có thể giảm từ 2 đến 3 thủ tục hành chính so với hiện nay.
Bên cạnh đó, dự thảo Luật sẽ đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo tinh thần “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Những thủ tục không cần thiết sẽ được rà soát để loại bỏ; hồ sơ, dữ liệu được số hóa, kết nối và chia sẻ giữa các cơ quan nhà nước nhằm giảm tối đa việc yêu cầu người dân, doanh nghiệp cung cấp lại thông tin đã có.
Một điểm rất quan trọng là hệ thống thông tin khai thác và sử dụng tài nguyên biển đã được đưa vào vận hành từ năm 2026 sẽ trở thành nền tảng để thực hiện dịch vụ công trực tuyến, theo dõi tiến độ giải quyết hồ sơ và tăng tính minh bạch trong quản lý nhà nước.
Mục tiêu cuối cùng là giảm thời gian, giảm chi phí, giảm tiếp xúc trực tiếp và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Kiến tạo động lực cho kinh tế biển xanh
Nuôi biển công nghệ cao, đặc biệt là nuôi biển xa bờ, đang được xem là một hướng đi nhiều tiềm năng nhưng cũng còn không ít rào cản về không gian, hạ tầng và nguồn lực đầu tư. Dự thảo Luật sẽ tạo điều kiện như thế nào để lĩnh vực này phát triển mạnh mẽ hơn trong thời gian tới?
Khó khăn trong việc tiếp cận và sử dụng ổn định khu vực biển phục vụ đầu tư dài hạn là rào cản ảnh hưởng đến khả năng thu hút nguồn lực cho lĩnh vực nuôi biển công nghệ cao.
Vì vậy, một trong những định hướng quan trọng của dự thảo Luật là hoàn thiện các quy định về quản lý, phân bổ và sử dụng không gian biển theo hướng minh bạch, ổn định và thuận lợi hơn cho các hoạt động phát triển kinh tế biển, trong đó có nuôi biển công nghệ cao và nuôi biển xa bờ.
Bên cạnh đó, việc xây dựng cơ sở dữ liệu biển quốc gia, hoàn thiện quy hoạch không gian biển và tăng cường chuyển đổi số trong quản lý biển cũng sẽ giúp các nhà đầu tư tiếp cận thông tin thuận lợi hơn, giảm chi phí tìm hiểu, khảo sát và thực hiện các thủ tục hành chính liên quan.
Quan điểm của chúng tôi là tạo điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh nuôi biển công nghiệp, hiện đại, nhưng phải gắn với bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển và sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên biển.
Việc sửa đổi Luật lần này không chỉ nhằm quản lý mà còn hướng tới tạo động lực phát triển. Theo ông, những lĩnh vực nào sẽ được hưởng lợi lớn nhất?
Một trong những mục tiêu lớn nhất của lần sửa đổi này là biến thể chế thành động lực phát triển. Luật sẽ tập trung khơi thông nguồn lực từ tài nguyên, không gian biển, tạo điều kiện cho các ngành kinh tế biển mới phát triển mạnh mẽ.
Các lĩnh vực như nuôi biển công nghệ cao, logistics biển xanh, công nghiệp sinh học biển, dược liệu biển, hạ tầng biển đa mục tiêu hay các trung tâm kinh tế biển hiện đại sẽ có thêm cơ sở pháp lý để thu hút đầu tư.
Dự thảo Luật cũng hướng tới việc bảo đảm quyền tiếp cận tài nguyên biển công bằng, minh bạch, giảm cơ chế xin-cho và tạo môi trường đầu tư ổn định, có khả năng dự báo cao cho doanh nghiệp.
Đặc biệt, khu vực kinh tế tư nhân sẽ được xem là lực lượng đồng hành quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế biển xanh. Nhà nước không chỉ thực hiện vai trò quản lý mà còn đóng vai trò kiến tạo, hỗ trợ và dẫn dắt phát triển.
Từ xử lý hậu quả sang phòng ngừa rủi ro
Thực tế, nhiều sự cố môi trường biển chỉ được phát hiện khi đã xảy ra. Và giải quyết sự cố ở thế bị động bao giờ cũng khiến hậu quả nặng nề và chi phí tăng cao hơn thế chủ động. Dự thảo Luật có đang thay đổi cách tiếp cận này, thưa ông?
Tinh thần của dự thảo Luật lần này là chuyển mạnh từ tư duy “xử lý hậu quả” sang “chủ động phòng ngừa và quản lý rủi ro”, kiểm soát nguồn gây ô nhiễm ngay từ đầu. Một số điểm mới quan trọng là gắn quản lý xả thải với quy hoạch không gian biển, hệ sinh thái biển, lưu vực sông ven biển, sức chịu tải của môi trường; khoanh định khu vực cấm, hạn chế xả thải; kiểm soát hoạt động đầu tư theo mức độ rủi ro môi trường và quy định trách nhiệm của các chủ thể liên quan.
Bên cạnh đó, cần xây dựng hoàn chỉnh hệ thống dữ liệu biển quốc gia và đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý tài nguyên, môi trường biển. Nhờ đó, các nguy cơ ô nhiễm, suy thoái môi trường có thể được phát hiện sớm, cảnh báo sớm và xử lý ngay từ khi mới phát sinh.
Mục tiêu cuối cùng là bảo vệ hệ sinh thái biển, giảm thiểu chi phí khắc phục hậu quả, đồng thời bảo đảm môi trường biển an toàn cho sinh kế của người dân và cho các hoạt động phát triển kinh tế biển lâu dài.
Thưa ông, trong quá trình sửa đổi Luật lần này, đâu là nguyên tắc quan trọng nhất để vừa khai thác hiệu quả tiềm năng biển, vừa bảo đảm lợi ích lâu dài cho các thế hệ tương lai?
Biển là nguồn lực lớn cho tăng trưởng, nhưng cũng là tài sản chung của các thế hệ, là hệ sinh thái đặc biệt nhạy cảm và hữu hạn. Vì vậy, mọi quyết định khai thác hôm nay phải tính đến lợi ích lâu dài của ngày mai. Tinh thần xuyên suốt của dự thảo Luật là chuyển từ tư duy quản lý đơn ngành sang quản trị tổng hợp, từ xử lý hậu quả sang phòng ngừa rủi ro, từ khai thác đơn thuần sang phát triển bền vững. Chúng tôi kỳ vọng Luật sửa đổi sẽ tạo nền tảng để biển không chỉ là nguồn tài nguyên của hôm nay, mà còn là không gian phát triển cho nhiều thế hệ mai sau.
Trân trọng cảm ơn ông!