Công nghệ mở hướng mới cho nghề nuôi cá chình bông

Trung tâm Đổi mới sáng tạo tỉnh Đắk Lắk thuộc Sở Khoa học và Công nghệ vừa tổ chức sự kiện kết nối cung – cầu công nghệ với chuyên đề “Công nghệ nuôi cá chình bông theo hướng bền vững”. Đây là dịp để cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và người nuôi trao đổi về những giải pháp kỹ thuật nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn trong quá trình phát triển nghề nuôi đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế cao này.

Nhiều dư địa nhưng còn manh mún

Cá chình bông được đưa vào nuôi tại một số tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ từ những năm 2000, sau đó từng bước mở rộng ra nhiều địa phương trong cả nước. Với giá trị kinh tế cao và nhu cầu tiêu thụ từ thị trường nhà hàng, chế biến và xuất khẩu, đây được xem là đối tượng có nhiều triển vọng phát triển.

Tại khu vực phía Đông Đắk Lắk, điều kiện tự nhiên và nguồn nước được đánh giá có nhiều thuận lợi cho phát triển nghề nuôi cá chình bông. Đặc biệt, sản phẩm cá chình bông của tỉnh được cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý “Cá chình bông Phú Yên”, tạo thêm cơ sở để xây dựng thương hiệu và nâng cao giá trị sản phẩm.

Tuy nhiên, nghề nuôi hiện vẫn chủ yếu ở quy mô nhỏ, phân tán và chưa hình thành được chuỗi sản xuất hàng hóa ổn định. Người nuôi còn gặp không ít khó khăn từ khâu giống đến chăm sóc và tiêu thụ.

Chất lượng con giống chưa được kiểm soát chặt chẽ, môi trường nước có nguy cơ biến động, chi phí thức ăn cao, dịch bệnh tiềm ẩn, trong khi liên kết giữa người nuôi và doanh nghiệp chưa thực sự bền vững. Những yếu tố này khiến hiệu quả sản xuất thiếu ổn định và hạn chế khả năng mở rộng quy mô.

Theo ông Nguyễn Văn Phú, Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Thủy sản Phú Yên, nhu cầu thị trường đối với cá chình bông đang mở rộng, trong đó có phân khúc nhà hàng cao cấp và xuất khẩu. Để xây dựng quan hệ bao tiêu lâu dài, doanh nghiệp cần vùng nguyên liệu có sản lượng ổn định, chất lượng đồng đều và bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc.

Công nghệ mở hướng kiểm soát môi trường

Một trong những giải pháp được giới thiệu tại sự kiện là ứng dụng hệ thống nuôi tuần hoàn (RAS) trong sản xuất giống và nuôi cá chình bông thương phẩm.

Theo Th.S Lê Ngọc Hạnh, Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam, RAS cho phép kiểm soát tốt hơn các yếu tố môi trường trong hệ thống nuôi, đồng thời tái sử dụng nước. Việc hạn chế nguồn nước tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài cũng góp phần giảm nguy cơ mầm bệnh xâm nhập.

Đối với nghề nuôi cá chình bông, kiểm soát chất lượng nước có ý nghĩa quan trọng bởi đây là một trong những yếu tố tác động trực tiếp đến sức khỏe và tốc độ sinh trưởng của vật nuôi. Việc áp dụng hệ thống tuần hoàn vì vậy có thể giúp người nuôi chủ động hơn trong quản lý môi trường, đồng thời giảm những rủi ro phát sinh từ chất thải trong quá trình nuôi.

Nuôi cá chình thương phẩm tại Công ty TNHH Nuôi trồng Thủy sản Vạn Xuân. Ảnh: Công ty Vạn Xuân

Bên cạnh môi trường, chất lượng giống cũng được các chuyên gia đặc biệt lưu ý. Th.S Ngô Minh Khang, Công ty TNHH Nuôi trồng Thủy sản Vạn Xuân (Khánh Hòa) cho rằng, kiểm soát ngay từ đầu vào có vai trò quan trọng đối với hiệu quả của cả vụ nuôi.

Cùng với lựa chọn con giống phù hợp, quy trình nuôi cần được chuẩn hóa từ quản lý tỷ lệ sống, dinh dưỡng đến phòng bệnh chủ động bằng các giải pháp sinh học. Đây là cơ sở để kiểm soát chi phí, hạn chế hao hụt và nâng cao chất lượng sản phẩm khi thu hoạch.

Liên kết để phát triển thành sản phẩm hàng hóa

Từ thực tế sản xuất, ông Nguyễn Đăng Huỳnh, người nuôi tại phường Bình Kiến cho biết, trước đây nhiều hộ chủ yếu dựa vào kinh nghiệm nên gặp khó trong kiểm soát hao hụt giống cũng như chất lượng nguồn nước. Việc được tiếp cận công nghệ lọc tuần hoàn và quy trình lựa chọn giống giúp người nuôi có thêm giải pháp kỹ thuật để giảm rủi ro

Tuy nhiên, để các mô hình công nghệ có thể được nhân rộng, người nuôi mong muốn có thêm nguồn lực đầu tư ban đầu và được hướng dẫn trực tiếp trong quá trình triển khai tại cơ sở.

Ở góc độ tổ chức sản xuất, ông Lê Quang Hiệp, Phó Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã tỉnh Đắk Lắk cho rằng, phát triển nghề nuôi theo hướng nhỏ lẻ sẽ khó kiểm soát đồng bộ về kỹ thuật, dịch bệnh và đầu ra. Do đó, cần thúc đẩy hình thành các hợp tác xã, vùng nuôi chuyên canh, từng bước áp dụng cùng một quy trình kỹ thuật và tăng cường liên kết với doanh nghiệp.

Đây cũng là điều kiện để cá chình bông từ những mô hình sản xuất phân tán từng bước trở thành sản phẩm hàng hóa có quy mô, chất lượng ổn định và khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Tỉnh Đắk Lắk có đường bờ biển dài gần 200km với địa hình đồi núi đa dạng, hình thành nên hệ thống đầm, vịnh đan xen cùng các gành đá nhô ra biển. Ở khu vực phía Đông của tỉnh Đắk Lắk (tỉnh Phú Yên cũ) sở hữu vùng nước lợ ven biển rộng khoảng 21.000ha, là môi trường lý tưởng cho các loài thủy sinh phát triển.

Với tỷ lệ chiếm từ 80-90% lượng cung cấp toàn quốc, Đắk Lắk đang là địa phương dẫn đầu cả nước về nguồn giống cá chình bông tự nhiên. Người dân khai thác loại cá này dọc theo hạ lưu sông Bàn Thạch, đập Tam Giang. Hiện Đắk Lắk có 4 sản phẩm được Cục Sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý, trong đó có cá chình bông Phú Yên.

Bình Nguyên
Nguồn: https://thuysanvietnam.com.vn/cong-nghe-mo-huong-moi-cho-nghe-nuoi-ca-chinh-bong/

popup

Số lượng:

Tổng tiền:

Email Gọi ngay Facebook
Facebook Chat Icon Xin chào!
Mình có thể giúp gì bạn
hiephoinuoibienvietnam