Với hơn 6.100km² mặt nước biển, đường bờ biển dài trên 250km, cùng hàng nghìn đảo lớn nhỏ, Quảng Ninh đang từng bước khẳng định vai trò là một trong những trung tâm kinh tế biển quan trọng của cả nước. Trong bối cảnh đó, việc khai thác đi đôi với bảo vệ nguồn lợi thủy sản, phát triển theo hướng bền vững, có trách nhiệm đang là yêu cầu cấp thiết, xuyên suốt trong chỉ đạo, điều hành của tỉnh.
Quyết tâm gỡ thẻ vàng IUU
Xác định chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, Quảng Ninh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, nhằm kiểm soát chặt chẽ hoạt động khai thác thủy sản trên biển. Toàn tỉnh hiện có 4.127 tàu cá từ 6m trở lên đã được đăng ký, cập nhật đầy đủ trên hệ thống VNFishbase; 100% tàu đủ điều kiện được cấp phép khai thác, tỷ lệ tàu còn hạn đăng kiểm đạt trên 97%. Công tác kiểm soát tàu cá không đủ điều kiện hoạt động, tàu mất kết nối thiết bị giám sát hành trình (VMS) được thực hiện nghiêm túc; các trường hợp vi phạm được rà soát, lập danh sách, giao địa phương quản lý, theo dõi chặt chẽ.
Cùng với đó, việc giám sát tàu cá qua hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử (eCDT) tiếp tục được mở rộng, từng bước nâng cao tính minh bạch, đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế. Công tác kiểm soát tàu cá ra, vào cảng được duy trì nền nếp, đảm bảo 100% tàu cá cập cảng, rời cảng được kiểm tra, giám sát theo quy định. Lực lượng chức năng tăng cường tuần tra, kiểm tra trên các vùng biển, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm những hành vi vi phạm, nhất là khai thác sai vùng, sử dụng ngư cụ cấm, hoặc vi phạm vùng biển nước ngoài.
Bên cạnh đó, tỉnh cũng đẩy mạnh rà soát, quản lý đối với tàu phục vụ nuôi trồng thủy sản và các phương tiện thủy khác, bảo đảm đưa vào quản lý theo đúng quy định; đồng thời tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức của ngư dân về khai thác hợp pháp, có trách nhiệm. Qua đó, góp phần từng bước lập lại trật tự trong hoạt động khai thác thủy sản, bảo vệ nguồn lợi và nâng cao uy tín của ngành Thủy sản địa phương trong quá trình hội nhập quốc tế.
Ngoài ra, lực lượng kiểm ngư cũng tăng cường tuần tra, kiểm tra trên biển, tập trung xử lý dứt điểm các hành vi sử dụng ngư cụ bị cấm. Việc này không chỉ góp phần lập lại trật tự trong hoạt động khai thác, mà còn bảo vệ nguồn lợi thủy sản, hệ sinh thái biển.
Đáng chú ý, ngày 3/2/2026 UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 43/KH-UBND, trong đó đề ra mục tiêu: 100% tàu cá được quản lý đầy đủ, dữ liệu “đúng, sạch, sống”; không để phát sinh tàu cá vi phạm vùng biển nước ngoài; hoàn thành các chính sách hỗ trợ lắp đặt thiết bị giám sát hành trình. Đây được xem là nền tảng quan trọng để cùng cả nước sớm gỡ cảnh báo thẻ vàng của Ủy ban châu Âu (EC).
Bên cạnh kiểm soát khai thác, Quảng Ninh cũng triển khai lộ trình chuyển đổi nghề cá theo hướng bền vững, giảm dần những nghề khai thác có tác động lớn đến nguồn lợi thủy sản. Giai đoạn 2026-2030, tỉnh đặt mục tiêu giảm 862 tàu cá, tập trung ở khu vực ven bờ, đồng thời khuyến khích ngư dân chuyển sang nuôi trồng thủy sản, dịch vụ hậu cần nghề cá, hoặc các ngành nghề khác phù hợp.
Tỉnh chú trọng cơ cấu lại ngành Thủy sản theo hướng giảm khai thác, tăng nuôi trồng và dịch vụ, từng bước hình thành chuỗi giá trị khép kín từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ. Các mô hình nuôi trồng thủy sản ứng dụng công nghệ cao, thân thiện với môi trường được khuyến khích phát triển, góp phần nâng cao giá trị gia tăng và giảm áp lực lên nguồn lợi tự nhiên. Thông qua các giải pháp đồng bộ, Quảng Ninh không chỉ hướng tới mục tiêu gỡ thẻ vàng IUU, mà còn từng bước xây dựng ngành Thủy sản phát triển bền vững, có trách nhiệm, thích ứng với biến đổi khí hậu và hội nhập sâu rộng với thị trường quốc tế.
Xây dựng trung tâm kinh tế biển hiện đại, bền vững
Không chỉ siết chặt quản lý khai thác thủy sản, Quảng Ninh còn chú trọng bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái biển. Tỉnh đang từng bước hoàn thiện thể chế, chính sách, đồng thời đẩy mạnh phân cấp quản lý, gắn trách nhiệm cụ thể cho từng địa phương, đơn vị; tăng cường kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật trong hoạt động thủy sản, kịp thời phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm.
Thực tiễn tại các địa phương cho thấy hiệu quả rõ nét của cách làm này. Tại xã Đường Hoa, với định hướng phát triển theo hướng bền vững, địa phương đã chú trọng quản lý chặt chẽ vùng nuôi, kiểm soát chất lượng con giống, thức ăn, hạn chế sử dụng kháng sinh và áp dụng các mô hình nuôi thân thiện với môi trường. Nhờ đó, với diện tích nuôi trồng khoảng 285ha, sản lượng thủy sản duy trì ổn định khoảng 6.500 tấn/năm, từng bước nâng cao giá trị sản xuất và giảm thiểu tác động tiêu cực đến hệ sinh thái.
Hay tại đặc khu Vân Đồn, việc giao khu vực biển cho các tổ chức, hợp tác xã nuôi trồng thủy sản được thực hiện bài bản, minh bạch, gắn với yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Nhiều mô hình nuôi biển ứng dụng công nghệ cao như lồng HDPE, nuôi xa bờ, kết hợp du lịch trải nghiệm đã mang lại hiệu quả kinh tế, đồng thời giảm áp lực lên vùng ven bờ và nguồn lợi tự nhiên.
Tỉnh cũng duy trì và phát huy hiệu quả các khu bảo tồn biển như khu vực Cô Tô, đảo Trần, đồng thời triển khai các hoạt động tái tạo nguồn lợi thủy sản, phục hồi hệ sinh thái. Các mô hình kinh tế tuần hoàn, nuôi trồng kết hợp đa tầng, tái sử dụng phụ phẩm đang được nghiên cứu, nhân rộng nhằm giảm phát thải, bảo vệ môi trường. Việc lồng ghép giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường đang từng bước tạo nền tảng vững chắc để ngành Thủy sản trên địa bàn tỉnh phát triển theo hướng xanh, bền vững và lâu dài.
Những năm gần đây, việc ứng dụng khoa học công nghệ được tăng cường, từ quản lý tàu cá bằng dữ liệu số, định danh điện tử (VNeID), đến quan trắc môi trường, kiểm soát dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản. Thông qua hệ thống này, cơ quan chức năng có thể giám sát chặt chẽ hành trình tàu cá theo thời gian thực, kịp thời phát hiện các trường hợp mất kết nối VMS, vượt ranh giới cho phép, hoặc có dấu hiệu vi phạm quy định về khai thác IUU. Đồng thời, dữ liệu số còn hỗ trợ hiệu quả trong công tác truy xuất nguồn gốc thủy sản, phục vụ kiểm soát sản lượng qua cảng và đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu.
Việc đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý tàu cá không chỉ góp phần siết chặt kỷ cương trong hoạt động khai thác, mà còn tạo nền tảng quan trọng để hiện đại hóa ngành Thủy sản, hướng tới quản trị thông minh, minh bạch và bền vững.
Cùng với đó, tỉnh tiếp tục đầu tư, nâng cấp hệ thống cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão; hoàn thiện điều kiện hoạt động của các cảng cá để kiểm soát sản lượng thủy sản qua cảng. Nhiều hạng mục hạ tầng được cải tạo, nâng cấp đồng bộ, từ cầu cảng, khu bốc dỡ, hệ thống cấp điện, nước, đến khu vực dịch vụ hậu cần nghề cá, đáp ứng yêu cầu kiểm tra, giám sát và truy xuất nguồn gốc thủy sản theo quy định.
Thực tế tại các cảng cá ở đặc khu Vân Đồn, đặc khu Cô Tô, hay khu neo đậu tại phường Móng Cái 1 cho thấy hiệu quả rõ rệt khi hạ tầng được đầu tư bài bản. Công tác kiểm soát tàu cá ra, vào cảng, thống kê sản lượng bốc dỡ, xác nhận nguồn gốc thủy sản được thực hiện chặt chẽ, đúng quy trình; góp phần ngăn chặn tình trạng hợp thức hóa sản phẩm khai thác bất hợp pháp. Các khu neo đậu tránh trú bão được quy hoạch, nâng cấp cũng giúp ngư dân yên tâm vươn khơi, giảm thiểu thiệt hại khi có thiên tai.
Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật được đẩy mạnh, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của ngư dân trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản và chấp hành nghiêm các quy định trong hoạt động khai thác. Các nội dung tuyên truyền tập trung vào quy định chống khai thác IUU, sử dụng ngư cụ đúng quy định, không xâm phạm vùng biển nước ngoài, cũng như ý thức bảo vệ hệ sinh thái biển.
Tại nhiều địa phương ven biển, lực lượng chức năng đã tổ chức các buổi tuyên truyền trực tiếp tại cảng cá, khu neo đậu, khu dân cư ven biển; kết hợp phát tờ rơi, hướng dẫn, ký cam kết với chủ tàu, thuyền trưởng và ngư dân. Đặc biệt, các đợt ra quân của lực lượng kiểm ngư không chỉ dừng lại ở kiểm tra, xử lý vi phạm, mà còn lồng ghép tuyên truyền, giải thích quy định của pháp luật, giúp ngư dân hiểu rõ và tự giác chấp hành.
Cùng với đó, việc duy trì đường dây nóng tiếp nhận thông tin phản ánh về vi phạm trong lĩnh vực thủy sản cũng góp phần phát huy vai trò giám sát của cộng đồng. Nhiều mô hình “Tổ tự quản nghề cá”, “Tổ đoàn kết trên biển” được hình thành, qua đó nâng cao tinh thần trách nhiệm, hỗ trợ trong khai thác gắn với bảo vệ nguồn lợi. Nhờ cách làm linh hoạt, sát thực tế, công tác tuyên truyền từng bước chuyển biến từ “nhắc nhở” sang “tự giác”, góp phần xây dựng ý thức khai thác có trách nhiệm, hướng tới phát triển nghề cá bền vững trên địa bàn tỉnh.
Với cách làm bài bản, đồng bộ, từ hoàn thiện thể chế, quy hoạch không gian biển, đến tổ chức thực hiện và giám sát chặt chẽ, Quảng Ninh đang từng bước hiện thực hóa mục tiêu trở thành trung tâm kinh tế biển hiện đại, bền vững, có trách nhiệm và hội nhập quốc tế.
Nguyễn Thanh