Hệ sinh thái chính sách - ‘bệ đỡ’ cho nuôi biển công nghệ cao

Nuôi biển công nghệ cao chỉ có thể phát triển bền vững khi có hệ thống chính sách đồng bộ, xuyên suốt, được thực thi hiệu quả, tạo động lực để doanh nghiệp đầu tư.

Cần hệ sinh thái chính sách đồng bộ

Phát triển nuôi biển công nghệ cao không chỉ cần vốn hay một vài chính sách ưu đãi đơn lẻ mà đòi hỏi một hệ sinh thái chính sách đồng bộ, từ quy hoạch, hạ tầng, cơ chế tín dụng đến khoa học công nghệ và liên kết chuỗi. Đây là chia sẻ của TS Bùi Thanh Minh, Phó Giám đốc Văn phòng Ban Nghiên cứu Phát triển kinh tế tư nhân khi trao đổi về cơ chế thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nuôi biển.

Theo ông Minh, thay vì chỉ hỗ trợ từng hộ nuôi hay từng cá nhân, chính sách cần được thiết kế theo chuỗi giá trị. Để ngành nuôi biển phát triển bền vững, không thể kỳ vọng một chính sách đơn lẻ để giải quyết toàn bộ khó khăn mà cần một hệ sinh thái chính sách đồng bộ.

TS Bùi Thanh Minh, Phó Giám đốc Văn phòng Ban Nghiên cứu Phát triển kinh tế tư nhân cho rằng, có thể hình dung nuôi biển công nghiệp như những 'khu công nghiệp trên biển'. Trong khi dư địa phát triển các khu công nghiệp trên đất liền ngày càng hạn hẹp thì không gian biển vẫn còn rất lớn để khai thác và phát triển. Ảnh: Duy Học.
TS Bùi Thanh Minh, Phó Giám đốc Văn phòng Ban Nghiên cứu Phát triển kinh tế tư nhân cho rằng, có thể hình dung nuôi biển công nghiệp như những "khu công nghiệp trên biển". Trong khi dư địa phát triển các khu công nghiệp trên đất liền ngày càng hạn hẹp thì không gian biển vẫn còn rất lớn để khai thác và phát triển. Ảnh: Duy Học.

Ông cho rằng, khi quy hoạch vùng nuôi chưa rõ ràng, hạ tầng còn thiếu, cơ chế chưa thực sự thông thoáng và rủi ro vẫn ở mức cao, rất ít doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư dài hạn. Vì vậy, vấn đề không chỉ nằm ở nguồn vốn mà còn ở việc xây dựng một hệ sinh thái chính sách đủ mạnh để tạo niềm tin cho doanh nghiệp.

Theo ông Minh, trước hết cần xác định nuôi biển, đặc biệt là nuôi biển công nghiệp là ngành có lợi thế cạnh tranh của Việt Nam, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xanh, kinh tế số và kinh tế biển trong giai đoạn mới. Khi đã xác định đây là ngành ưu tiên, cần có các cơ chế hỗ trợ tương xứng.

Ông cũng lưu ý, khó khăn về vốn không chỉ là câu chuyện của ngành nuôi biển mà là thực trạng chung của cộng đồng doanh nghiệp khi khoảng 78% doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn.

Ông Minh nhấn mạnh thời gian qua, Việt Nam đã ban hành nhiều nghị quyết quan trọng, tạo định hướng phát triển mới, trong đó nổi bật là Nghị quyết 57 về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia cùng Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân. Các nghị quyết này mở ra nhiều cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp, trong đó có cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với các lĩnh vực có rủi ro.

Bên cạnh đó, Chương trình phát triển 1.000 doanh nghiệp tiên phong giai đoạn 2026 - 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 631/QĐ-TTg ưu tiên phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp tạo tác động tích cực đến môi trường và thúc đẩy chuyển đổi xanh. Chương trình Go Global do Bộ Công Thương chủ trì cũng được triển khai nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân Việt Nam mở rộng hiện diện quốc tế, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Đồng thời, Chính phủ đang xây dựng dự thảo nghị định hỗ trợ lãi suất 2%/năm từ ngân sách nhà nước đối với các khoản vay thực hiện dự án xanh, kinh tế tuần hoàn và ESG. Chính sách này hướng tới hỗ trợ trực tiếp doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh tiếp cận nguồn vốn ưu đãi từ các ngân hàng thương mại và các quỹ tài chính nhà nước.

Đây đều là những chính sách cụ thể hóa Nghị quyết 68 và là cơ hội để doanh nghiệp nói chung cũng như doanh nghiệp nuôi biển khai thác hiệu quả các cơ chế hỗ trợ để phát triển.

Phải "hạ độ cao" chính sách

Cũng theo ông Minh, điều quan trọng nhất hiện nay là thực thi chính sách. Các cơ chế hỗ trợ cần thực sự đến được với doanh nghiệp, đi vào thực tiễn sản xuất và trở thành "bà đỡ", tạo cú hích giúp doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, phát triển nuôi biển công nghệ cao.

Ông cho rằng, doanh nghiệp nuôi biển cần được tiếp cận các nguồn vốn dài hạn. Với đặc thù thời gian thu hồi vốn của các dự án nuôi biển thường kéo dài từ 7 - 10 năm, việc sử dụng các khoản vay ngắn hạn 6 - 12 tháng là không phù hợp.

Một nội dung quan trọng khác là hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào khoa học công nghệ. Theo ông Minh, đổi mới công nghệ luôn đi kèm rủi ro nên cần có các cơ chế chia sẻ rủi ro và nguồn lực hỗ trợ doanh nghiệp.

Khó khăn về vốn không chỉ là câu chuyện của ngành nuôi biển mà là thực trạng chung của cộng đồng doanh nghiệp. Ảnh: Duy Học.
Khó khăn về vốn không chỉ là câu chuyện của ngành nuôi biển mà là thực trạng chung của cộng đồng doanh nghiệp. Ảnh: Duy Học.

Doanh nghiệp là chủ thể hiểu rõ thị trường nhất và cũng có động lực mạnh nhất để đầu tư công nghệ. Khi doanh nghiệp được đặt vào vị trí trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, họ sẽ chủ động đặt hàng các trường đại học, viện nghiên cứu giải quyết những bài toán thực tiễn của sản xuất. Cách tiếp cận này không chỉ giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh mà còn góp phần đưa các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn nhanh hơn.

Bên cạnh đó, cần tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho địa phương bởi đây là cấp chính quyền gần doanh nghiệp nhất, hiểu rõ điều kiện thực tế và đặc thù từng vùng nuôi để triển khai chính sách linh hoạt, hiệu quả.

Ông Minh nhấn mạnh, phát triển nuôi biển công nghệ cao cần một hệ sinh thái chính sách đồng bộ và xuyên suốt, từ quy hoạch vùng nuôi, đầu tư hạ tầng dùng chung đến các cơ chế đặc thù về vốn, thử nghiệm công nghệ có kiểm soát và cơ chế hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và người nuôi biển.

“Nhiều hạng mục hạ tầng như cảng, logistics hay cơ sở dịch vụ sẽ rất tốn kém nếu từng doanh nghiệp tự đầu tư, do đó cần có cơ chế đầu tư dùng chung để giảm chi phí và nâng cao hiệu quả”, ông Minh nêu quan điểm.

Theo ông Minh, điều quan trọng là phải "hạ độ cao" của các chính sách, tức biến những chủ trương đã ban hành thành nguồn lực thực tế để hỗ trợ doanh nghiệp và tháo gỡ những rào cản tồn tại nhiều năm qua. Nếu không giải quyết được những điểm nghẽn này, Việt Nam không chỉ khó phát triển ngành nuôi biển mà còn bỏ lỡ một ngành kinh tế có dư địa tăng trưởng rất lớn trong tương lai.

TS Bùi Thanh Minh, Phó Giám đốc Văn phòng Ban Nghiên cứu Phát triển kinh tế tư nhân chia sẻ: "Việt Nam sở hữu vùng biển rộng khoảng 1 triệu km², có truyền thống phát triển nghề biển. Đây là ngành gắn với sinh kế của hàng triệu người dân và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về quốc phòng. Vì vậy, chính sách không nên chỉ dừng lại ở chủ trương mà phải thực sự đi vào cuộc sống, trở thành 'bà đỡ' để doanh nghiệp vượt qua khó khăn, phát triển nuôi biển theo hướng chuyên nghiệp, đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường và khai thác hiệu quả tiềm năng kinh tế biển của đất nước".

popup

Số lượng:

Tổng tiền:

Email Gọi ngay Facebook
Facebook Chat Icon Xin chào!
Mình có thể giúp gì bạn
hiephoinuoibienvietnam