‘Mở khóa’ thể chế quản lý biển: [Bài 2] Cần đủ cơ chế để thực thi

Theo TS. Phạm Ngọc Sơn, điểm then chốt không chỉ bổ sung chính sách, mà các quy định phải đủ rõ, đủ cơ chế để có thể triển khai trên thực tế.

Không để tình trạng thiếu cơ chế thực thi

Góp ý vào Dự thảo chính sách của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), TS. Phạm Ngọc Sơn, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam cho rằng, trong quá trình sửa đổi, cơ quan soạn thảo cần làm rõ nội hàm chính sách để các quy định thật sự đi vào đời sống, tránh tình trạng cơ chế, thiếu công cụ thực thi.

TS. Phạm Ngọc Sơn cho rằng cần mở rộng giao biển, đấu giá, cho thuê… để phù hợp với các mô hình đầu tư khác nhau trên biển nhằm phát huy tối đa nguồn lực tài nguyên mà còn tạo thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Ảnh: T. Giang.
TS. Phạm Ngọc Sơn cho rằng cần mở rộng giao biển, đấu giá, cho thuê… để phù hợp với các mô hình đầu tư khác nhau trên biển nhằm phát huy tối đa nguồn lực tài nguyên mà còn tạo thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Ảnh: T. Giang.

Ông Sơn dẫn chứng thực tế quy định về bảo vệ tài nguyên, môi trường vùng bờ. Luật Luật Tài nguyên, môi trưởng biển và hải đảo năm 2015 đã có quy định riêng về bảo vệ môi trường biển do các nguồn ô nhiễm từ đất liền, hoạt động trên biển, xuyên biên giới, nhưng chủ yếu là quy định mang tính nguyên tắc về bảo vệ môi trường biển, chưa quy định cụ thể về kiểm soát rác thải biển.

Các hoạt động phát sinh chất thải rắn trên biển như khai thác thuỷ sản, nuôi trồng thuỷ sản,.. được quy định trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và văn bản hướng dẫn thi hành, tuy nhiên, quy định này chưa cụ thể, chủ yếu mang tính nguyên tắc (trừ quy định về quản lý rác thải phát sinh từ hoạt động hàng hải đã được quy định cụ thể).

Dẫn kinh nghiệm quốc tế, TS. Sơn cho biết tại một số quốc gia như Hàn Quốc, nhiệm vụ này được giao cho các doanh nghiệp nhà nước chuyên trách; trong khi Trung Quốc có luật riêng về bảo vệ môi trường biển. Điều này cho thấy Việt Nam cần có cách tiếp cận mạnh mẽ hơn, phù hợp với đặc thù của môi trường biển.

Các Luật khác có liên quan như Luật Biển Việt Nam, Luật Thuỷ sản, Luật Dầu khí, Luật Khoáng sản,.. cũng chỉ quy định mang tính nguyên tắc và dẫn chiếu thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

“Thêm nữa cơ chế triển khai còn thiếu cụ thể. Những câu hỏi như ai được làm, làm ở đâu, làm như thế nào, vào thời điểm nào… vẫn chưa được giải quyết đầy đủ trong thực tiễn”, ông Sơn nói.

Chính bởi thiếu cơ chế triển khai nên thực tế thời gian qua, việc kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo còn nhiều hạn chế.

Một trong những nguyên nhân chính là thiếu lực lượng và phương tiện để kiểm soát trên biển. Hiện nay, chỉ có một số lực lượng như kiểm ngư, cảnh sát biển có khả năng hoạt động ngoài khơi, trong khi các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường lại thiếu điều kiện tiếp cận thực địa.

Từ thực tế đó, ông đề xuất cần nghiên cứu xây dựng một lực lượng chuyên trách về quản lý, kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, với cơ chế, nguồn lực rõ ràng. Đây sẽ là lực lượng nòng cốt, đủ năng lực giám sát, phát hiện và xử lý các hành vi gây ô nhiễm.

Có thể đấu giá quyền sử dụng biển

Đối với chính sách tăng cường quản lý, sử dụng không gian biển, TS. Phạm Ngọc Sơn cho rằng, việc nâng cấp đưa các nội dung này từ cấp nghị định lên cấp luật sẽ tạo nền tảng pháp lý vững chắc hơn, góp phần nâng cao tính minh bạch và khả năng dự báo của chính sách.

Một trong những điểm cần chú trọng là đa dạng hóa các hình thức giao khu vực biển. Theo đó, ngoài hình thức giao trực tiếp, cần mở rộng các phương thức như đấu giá, cho thuê… phù hợp với các mô hình đầu tư khác nhau trên biển. Điều này không chỉ giúp phát huy tối đa nguồn lực tài nguyên mà còn tạo thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

Theo ông Sơn, nếu không có cơ chế điều phối hiệu quả thì rất khó bảo đảm phát triển hài hòa giữa các ngành. Việc lựa chọn phương án phát triển tại từng khu vực cần dựa trên nghiên cứu khoa học, có cơ sở chứng minh cụ thể, thay vì khoanh định mang tính chủ quan. Chẳng hạn, một khu vực có thể phù hợp hơn cho phát triển du lịch thay vì khai thác tài nguyên, hoặc ngược lại, và điều này cần được đánh giá một cách bài bản.

Đối với chính sách phát triển bền vững kinh tế biển, TS. Phạm Ngọc Sơn đánh giá các cơ chế, chính sách về đầu tư chủ yếu được thiết kế cho khu vực đất liền, chưa thực sự phù hợp với đặc thù hoạt động trên biển. Điều này phần nào hạn chế khả năng thu hút đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế biển.

Từ kinh nghiệm nghiên cứu cơ chế đặc thù của một số địa phương, ông cho rằng không nhất thiết mỗi địa phương phải ban hành một chính sách riêng. Thay vào đó, cần rà soát tổng thể các quy định hiện hành về đầu tư, thuế và các lĩnh vực liên quan; từ đó bổ sung những nội dung đặc thù cho kinh tế biển, bảo đảm đồng bộ, tránh chồng chéo.

Cách làm này không chỉ giúp rút ngắn thời gian hoàn thiện chính sách mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, tránh phải chờ đợi sửa đổi nhiều luật khác nhau.

Đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng nền tảng dữ liệu biển

Đối với chính sách thúc đẩy khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, TS. Phạm Ngọc Sơn bày tỏ sự đồng tình cao và cho rằng đây là hướng đi tất yếu.

Việc xây dựng hệ thống dữ liệu biển đồng bộ, tích hợp là điều kiện tiên quyết để nâng cao năng lực quản lý. Ảnh: Minh Ngọc.
Việc xây dựng hệ thống dữ liệu biển đồng bộ, tích hợp là điều kiện tiên quyết để nâng cao năng lực quản lý. Ảnh: Minh Ngọc.

Luật năm 2015 đã đề cập đến việc xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống giám sát tổng hợp tài nguyên, môi trường biển, nhưng đến nay vẫn chưa được triển khai hiệu quả. Nguyên nhân chủ yếu là thiếu nguồn lực và cơ chế thực hiện.

Theo ông, việc xây dựng hệ thống dữ liệu biển đồng bộ, tích hợp là điều kiện tiên quyết để nâng cao năng lực quản lý. Trên nền tảng đó, các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT) mới có thể phát huy hiệu quả trong phân tích, dự báo và hỗ trợ ra quyết định.

Do vậy, Luật sửa đổi cần quy định rõ hơn về việc xây dựng, chuẩn hóa, tích hợp và chia sẻ dữ liệu, bảo đảm tính thống nhất trên phạm vi toàn quốc.

Bổ sung chính sách điều tra tổng hợp và dữ liệu tài nguyên biển

Bên cạnh 5 chính sách đã được đề xuất, TS. Phạm Ngọc Sơn đặc biệt nhấn mạnh cần bổ sung một chính sách riêng về điều tra cơ bản tài nguyên biển, nền tảng để mọi quyết định quản lý có cơ sở khoa học.

Hiện nay, công tác điều tra vẫn được thực hiện theo từng ngành riêng lẻ như khoáng sản, tài nguyên nước, thủy sản… dẫn đến chi phí lớn, dữ liệu phân tán và hiệu quả chưa cao. Trong khi đó, môi trường biển có tính liên thông cao, không thể tách rời từng lĩnh vực.

TS. Phạm Ngọc Sơn đề xuất chuyển sang phương thức điều tra tổng hợp, tích hợp nhiều loại tài nguyên trong cùng một chương trình, trừ những trường hợp đặc biệt. Cách tiếp cận này sẽ giúp tiết kiệm nguồn lực, đồng thời tạo ra bộ dữ liệu đầy đủ, phục vụ hiệu quả cho công tác quản lý.

Cùng với đó, việc xây dựng hệ thống dữ liệu tài nguyên biển thống nhất, có quy chuẩn chung là yêu cầu cấp thiết. Đây sẽ là nền tảng cho chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ hiện đại và nâng cao năng lực quản trị biển trong dài hạn.

popup

Số lượng:

Tổng tiền:

Email Gọi ngay Facebook
Facebook Chat Icon Xin chào!
Mình có thể giúp gì bạn
hiephoinuoibienvietnam