Nhiều địa phương, doanh nghiệp kiến nghị nhiều nội dung vào chính sách biển và hải đảo nhằm nâng cao tính khả thi, đồng bộ và hiệu quả.
Phân cấp mạnh, hoàn thiện thể chế quản lý biển
Góp ý các chính sách của Luật Tài nguyên môi trường biển và hải đảo, nhiều bộ ngành, địa phương thống nhất với sự cần thiết phải sửa đổi Luật và 5 nhóm chính sách lớn do Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất, cho rằng các chính sách đã thể chế hóa đầy đủ các chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước trong quản lý tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.
Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Ninh đề xuất xây dựng hệ thống dữ liệu biển quốc gia thống nhất, có khả năng kết nối và chia sẻ. Ảnh:Hồng Thắm.
Một trong những vấn đề được nhiều ý kiến nhấn mạnh là yêu cầu đánh giá toàn diện thực trạng quản lý biển hiện nay, từ đó xây dựng chính sách phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế biển trong giai đoạn mới.
Đại diện Bộ Nội vụ, ông Vũ Duy Kiên cho rằng cần bổ sung các quy định cụ thể hơn về phát triển kinh tế biển, bao quát từ du lịch, dịch vụ đến khai thác thủy sản. Đây là cơ sở để bảo đảm tính đầy đủ của chính sách, đồng thời tạo điều kiện cho các địa phương triển khai hiệu quả.
Đáng chú ý, ông Kiên nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho chính quyền địa phương. Theo đó, địa phương cần được trao quyền chủ động nhiều hơn trong quản lý, khai thác và bảo vệ tài nguyên biển gắn với trách nhiệm cụ thể. Tuy nhiên, việc tổ chức thực thi phải dựa trên bộ máy hiện có, tránh phát sinh thêm biên chế, phù hợp với chủ trương tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị.
Từ góc độ địa phương, ông Nguyễn Đức Cường, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa cho rằng cần thiết phải xây dựng các cơ chế, chính sách linh hoạt, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng địa phương ven biển.
Theo ông, nếu áp dụng một khung chính sách cứng nhắc sẽ khó phát huy hết tiềm năng của từng vùng. Do đó, Luật cần tạo “không gian chính sách” đủ rộng để địa phương chủ động vận dụng. Đồng thời, cần làm rõ các thuật ngữ pháp lý, bảo đảm thống nhất trong cách hiểu và triển khai giữa các cấp, qua đó nâng cao hiệu quả bảo vệ hệ sinh thái và phát triển kinh tế biển bền vững.
Cùng quan điểm, ông Nguyễn Tiến Hùng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Tĩnh đề nghị cần làm rõ hơn các quy định về giao quyền sử dụng khu vực biển, nhất là trong bối cảnh ngày càng xuất hiện nhiều xung đột lợi ích giữa doanh nghiệp và cộng đồng cư dân ven biển.
Ông cũng chỉ ra những thách thức trong đánh giá tác động môi trường đối với các dự án năng lượng tái tạo ngoài khơi, cũng như những khó khăn trong quản lý hành lang bảo vệ bờ biển. Bên cạnh đó, các vấn đề về phân cấp quản lý hành chính và sự chồng chéo trong quy hoạch luồng hàng hải cần được rà soát, xử lý đồng bộ.
Gỡ chồng chéo, thúc đẩy kinh tế biển bền vững
Trong khi đó, ông Phan Minh Thành, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hải Phòng nhấn mạnh yêu cầu xác định rõ ranh giới hành chính trên biển giữa các cấp chính quyền, tạo thuận lợi cho công tác quản lý và giảm thiểu tranh chấp.
Các địa phương đề nghị làm rõ tiêu chí xác định ngành ưu tiên theo hướng kinh tế biển xanh, xây dựng cơ chế huy động nguồn lực xã hội và quy định rõ nguyên tắc ưu đãi đầu tư gắn với bảo vệ môi trường. Ảnh:Thu Lê.
Ông cũng cho rằng hiện còn tồn tại sự chồng chéo giữa Luật Đất đai và các luật chuyên ngành, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong đăng ký tài sản và thế chấp các công trình ven biển. Do đó, cần sớm hoàn thiện các quy định liên quan, đồng thời xây dựng hệ thống dữ liệu số đồng bộ để thay thế phương thức quản lý thủ công.
Từ thực tiễn địa phương, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi đề nghị mở rộng quyền của tổ chức, cá nhân được giao khu vực biển theo hướng cho phép chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn, thế chấp và được bồi thường khi Nhà nước thu hồi. Việc mở rộng quyền cần đi kèm yêu cầu tuân thủ quy hoạch không gian biển và bảo vệ môi trường.
Liên quan đến chính sách phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Ninh đề xuất cần hoàn thiện khung pháp lý, thiết lập cơ chế huy động khu vực tư nhân tham gia nghiên cứu, phát triển công nghệ biển, đồng thời xây dựng hệ thống dữ liệu biển quốc gia thống nhất, có khả năng kết nối và chia sẻ.
Đối với chính sách phát triển kinh tế biển, các địa phương đề nghị làm rõ tiêu chí xác định ngành ưu tiên theo hướng kinh tế biển xanh, xây dựng cơ chế huy động nguồn lực xã hội và quy định rõ nguyên tắc ưu đãi đầu tư gắn với bảo vệ môi trường.
Từ phía doanh nghiệp, đại diện Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam cho rằng cần hoàn thiện cơ chế quản lý hài hòa giữa các hoạt động cùng tồn tại trên biển, đặc biệt là các lĩnh vực có yêu cầu cao về an toàn như dầu khí. Đồng thời, doanh nghiệp mong muốn sớm có dữ liệu điều tra cơ bản đồng bộ và xác định rõ địa giới hành chính trên biển để thuận lợi trong triển khai dự án.
Những góp ý từ thực tiễn quản lý và sản xuất, kinh doanh tiếp tục khẳng định yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện thể chế theo hướng đồng bộ, linh hoạt và minh bạch, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển kinh tế biển bền vững trong giai đoạn mới.
Sửa Luật không ôm đồm, cần ưu tiên nguyên tắc lớn
Bà Nguyễn Thị Mai Phương, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội
Góp ý về việc sửa đổi chính sách, pháp luật tài nguyên và môi trưởng biển, hải đảo, bà Nguyễn Thị Mai Phương, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội cho rằng, yêu cầu quan trọng nhất là bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, đồng thời nâng cao tính khả thi trong tổ chức thực hiện.
Theo đó, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều luật chuyên ngành khác. Vì vậy, quá trình sửa đổi cần được đặt trong tổng thể rà soát, đồng bộ với các luật có liên quan, nhất là những dự án luật đang được sửa đổi, trình Quốc hội trong kỳ họp tới. Cách tiếp cận này nhằm tránh chồng chéo, mâu thuẫn, đồng thời tạo thuận lợi cho công tác phối hợp giữa các cơ quan quản lý.
Về định hướng xây dựng chính sách, bà Nguyễn Thị Mai Phương cho rằng cần cân nhắc kỹ việc luật hóa một số quy định hiện hành trong các nghị định về biển, đảo. Nguyên tắc đặt ra là chỉ đưa vào luật những nội dung thuộc thẩm quyền của Quốc hội, mang tính ổn định, lâu dài; trong khi các nội dung thuộc thẩm quyền điều hành của Chính phủ thì tiếp tục quy định ở cấp nghị định để bảo đảm tính linh hoạt. Luật cần tập trung vào các nguyên tắc chung, định hướng lớn, tránh ôm đồm, chi tiết hóa quá mức.
Đáng chú ý, đối với các chính sách cụ thể, cần đánh giá đầy đủ tác động của việc xử lý tình trạng chồng lấn trong quy hoạch biển, cũng như các vấn đề liên quan đến cấp giấy chứng nhận khu vực biển. Đây là những nội dung phức tạp, liên quan trực tiếp đến hoạt động đầu tư, khai thác, sử dụng tài nguyên biển.
Đồng thời, thiết kế các quy định chuyển tiếp để bảo đảm không làm gián đoạn, ảnh hưởng tiêu cực đến các dự án đang triển khai, đồng thời tạo hành lang pháp lý rõ ràng để các chủ thể yên tâm tiếp tục thực hiện.