LTS: Sau gần 8 năm thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW, Trung ương đang chuẩn bị ban hành một nghị quyết mới về biển.

Bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045, Việt Nam cần một cách tiếp cận mới. Nếu Nghị quyết 36 tập trung phát triển các ngành kinh tế biển, thì nghị quyết mới hướng tới quản trị và phát huy không gian phát triển biển quốc gia như một động lực chiến lược cho tăng trưởng.

Vì vậy, chuyên đề tập trung lý giải sự chuyển dịch trong tư duy phát triển của Việt Nam: từ kinh tế biển đến quốc gia biển, từ đó làm rõ vai trò của biển trong chiến lược phát triển đất nước đến năm 2045.

Chuyên đề không tiếp cận theo từng ngành như cảng biển, điện gió ngoài khơi, thủy sản, logistics hay du lịch biển. Những lĩnh vực này chỉ được sử dụng như những minh họa để làm rõ các luận điểm lớn.

Điểm khác biệt của tuyến bài là tiếp cận biển từ góc nhìn chiến lược và thể chế, coi biển là một không gian phát triển quốc gia chứ không chỉ là một lĩnh vực kinh tế. Qua đó, chuyên đề phản ánh sự chuyển dịch trong tư duy phát triển của Việt Nam: từ khai thác tài nguyên sang kiến tạo động lực phát triển; từ phát triển các ngành kinh tế biển sang quản trị không gian biển; từ mục tiêu "giàu từ biển" đến khát vọng xây dựng một quốc gia biển mạnh trong thế kỷ XXI.

Xem lại bài 1: Đổi mới tư duy để Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh

Xem lại bài 2: Thể chế là chìa khóa để Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh

Xem lại bài 3: Đã đến lúc thay đổi tư duy phát triển biển

Tuần Việt Nam tiếp tục trao đổi với TS. Trần Đình Thiên - Nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam.

Quốc gia biển mạnh – Doanh nghiệp là trung tâm

Theo ông, ai sẽ là chủ thể tạo nên một quốc gia biển mạnh?

TS. Trần Đình Thiên: Tôi cho rằng câu trả lời không nằm ở việc Nhà nước đầu tư bao nhiêu tiền.

Nhà nước có vai trò rất quan trọng trong quy hoạch, xây dựng thể chế, đầu tư hạ tầng chiến lược và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Nhưng nếu nói đến một nền kinh tế biển năng động, sáng tạo và có sức cạnh tranh quốc tế, thì chủ thể trung tâm phải là doanh nghiệp.

Lịch sử phát triển của các cường quốc biển đều cho thấy điều đó. Không có quốc gia biển mạnh nào chỉ dựa vào đầu tư công. Đằng sau mỗi cảng biển lớn, mỗi đội tàu viễn dương, mỗi trung tâm logistics hay mỗi chuỗi sản xuất – cung ứng biển đều là những doanh nghiệp biển đủ năng lực cạnh tranh toàn cầu, những tập đoàn kinh tế biển hùng mạnh.

Việt Nam cũng phải đi theo con đường ấy. Nhưng chúng ta đang rất thiếu lực lượng đó. 

Tran Dinh Thien.jpeg
TS. Trần Đình Thiên. Ảnh: VietNamNet

Chúng ta cần hình thành và phát triển những doanh nghiệp Việt có khả năng đầu tư vào logistics, cảng biển, vận tải quốc tế, công nghiệp đóng tàu, năng lượng ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, dịch vụ hàng hải và công nghệ biển.

Nghị quyết 68 đã xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Theo tôi, tinh thần ấy cũng phải được thể hiện trong chiến lược phát triển kinh tế biển. Quốc gia biển mạnh không chỉ được đo bằng số kilomet bờ biển hay số lượng cảng biển, mà chủ yếu bằng số doanh nghiệp đủ sức vươn ra và chinh phục đại dương.

Nếu doanh nghiệp Việt Nam vẫn chủ yếu hoạt động ven bờ, trong khi những khâu có giá trị gia tăng cao trên biển do doanh nghiệp nước ngoài đảm nhiệm, thì chúng ta mới chỉ khai thác được phần nhỏ lợi thế của mình.

Biển – Nơi thử nghiệm mô hình thể chế mới

Nhiều chuyên gia cho rằng điều Việt Nam còn thiếu không phải là cảng biển hay khu kinh tế ven biển, mà là một thể chế đủ mạnh để phát triển kinh tế biển. Ông nhìn nhận vấn đề này như thế nào?

Tôi đồng tình với nhận định đó.

Trong phát triển, thể chế luôn đi trước hạ tầng. Nếu thể chế không phù hợp, chúng ta có thể xây thêm nhiều cảng biển, nhiều khu kinh tế, nhưng hiệu quả sẽ không cao. Ngược lại, một thể chế tốt có thể biến một vị trí địa lý bình thường thành một trung tâm kinh tế có sức cạnh tranh quốc tế.

Nhìn ra thế giới, Singapore, Dubai hay Rotterdam không trở thành trung tâm hàng hải chỉ vì họ có cảng biển. Điều tạo nên sức cạnh tranh của họ là thể chế mở, môi trường kinh doanh thuận lợi, khả năng kết nối quốc tế và những chính sách đủ sức thu hút các dòng vốn, công nghệ và doanh nghiệp toàn cầu.

Đó là điều Việt Nam cần suy nghĩ.

Phát triển kinh tế biển không thể chỉ sử dụng những cơ chế quản lý như đối với một khu công nghiệp thông thường, càng không thể áp dụng các cơ chế, chính sách của nền kinh tế nông nghiệp truyền thống hay của nền kinh tế thị trường bậc thấp. Những khu thương mại tự do, cảng tự do, trung tâm logistics quốc tế hay các đô thị biển cần các thể chế hiện đại. Đặc biệt, đối với một nền kinh tế biển “đi sau”, cách tiếp cận “thể chế vượt trước”, có khả năng cạnh tranh với những trung tâm hàng hải lớn trong khu vực cần phải được coi là định hướng nhiệm vụ ưu tiên.

Nha Trang.jpeg
Điều quan trọng là Việt Nam phải được nhìn nhận như một quốc gia có năng lực biển, nghĩa là có khả năng chinh phục biển, tạo ra giá trị lớn từ đại dương, nhờ đó, có vị trí xứng đáng trong mạng lưới kinh tế biển toàn cầu. 

Tôi cho rằng biển chính là nơi Việt Nam có thể mạnh dạn thử nghiệm các mô hình thể chế mới. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều quốc gia lựa chọn các thành phố cảng và khu kinh tế ven biển để mở cửa trước, cải cách trước và hội nhập trước.

Nếu biết tận dụng cơ hội này, biển sẽ không chỉ mở ra một không gian kinh tế mới, mà còn mở ra một không gian cải cách mới cho Việt Nam.

Thiết nghĩ, đây mới là ý nghĩa sâu xa nhất của chiến lược phát triển kinh tế biển trong giai đoạn hiện nay. Chúng ta không chỉ đang tìm kiếm thêm một động lực tăng trưởng. Chúng ta đang tìm kiếm một mô hình phát triển mới cho đất nước, nơi thể chế, doanh nghiệp, khoa học công nghệ và hội nhập quốc tế cùng hội tụ trên một không gian rộng lớn nhất mà Việt Nam đang sở hữu.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gần đây yêu cầu phải đổi mới tư duy và tầm nhìn phát triển biển, đưa kinh tế biển trở thành một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng đất nước. Theo ông, tư duy phát triển biển trong giai đoạn mới cần được mở rộng như thế nào so với khi Nghị quyết 36 được ban hành?

Theo tôi, điều quan trọng nhất không phải là sửa vài mục tiêu hay bổ sung thêm một số ngành kinh tế biển mới. Điều cần đổi mới là cách nhìn về biển trong cấu trúc phát triển của quốc gia.

Khi Nghị quyết 36 được ban hành năm 2018, bước đột phá lớn nhất là chuyển từ tư duy khai thác sang tư duy phát triển bền vững. Đó là một bước tiến rất quan trọng. Lần đầu tiên biển được nhìn nhận như một không gian phát triển gắn với kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Thế giới đang thay đổi rất nhanh. Cạnh tranh chiến lược trên biển giữa các nước lớn ngày càng diễn ra mạnh mẽ. Chuỗi cung ứng toàn cầu đang được tái cấu trúc. Chuyển đổi năng lượng, kinh tế số, trí tuệ nhân tạo và công nghệ đại dương đang tạo ra những ngành kinh tế hoàn toàn mới mà trước đây chúng ta chưa hình dung đầy đủ.

Trong bối cảnh ấy, nếu vẫn coi kinh tế biển chỉ là một lĩnh vực kinh tế thì sẽ không đủ. Điều chúng ta cần hướng tới là tổ chức lại toàn bộ không gian phát triển quốc gia từ góc nhìn biển. Biển không còn là nơi chỉ để bố trí thêm các dự án đầu tư. Nó phải trở thành nơi hội tụ những động lực tăng trưởng mới: logistics quốc tế, công nghiệp năng lượng ngoài khơi, công nghệ biển, dữ liệu đại dương, dịch vụ hàng hải, tài chính, đổi mới sáng tạo và hợp tác quốc tế. Tầm mức quan trọng ngày càng tăng của kinh tế biển còn đòi hỏi phải coi hợp tác quốc tế trong kinh tế biển là lĩnh vực trọng điểm bảo đảm an ninh – quốc phòng và phát triển bền vững quốc gia.

Tôi cho rằng chỉ đạo gần đây của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm rất đáng chú ý ở chính điểm này. Đó không còn là yêu cầu phát triển thêm một số ngành kinh tế biển, mà là yêu cầu xây dựng một tầm nhìn mới về biển như một không gian chiến lược của quốc gia. Khi tư duy thay đổi, cách quy hoạch, cách phân bổ nguồn lực và cả cách xây dựng thể chế cũng phải thay đổi theo.

Theo ông, biển có thể đóng góp như thế nào vào mục tiêu tăng trưởng hai con số mà Việt Nam đang hướng tới?

Muốn tăng trưởng hai con số trong một thời gian dài thì không thể chỉ dựa vào việc mở rộng những động lực tăng trưởng cũ. Điều Việt Nam cần không đơn thuần là thêm vốn hay thêm lao động, mà là tạo ra những không gian phát triển mới, được khai thác và phát huy chủ yếu dựa vào công nghệ hiện đại, tạo ra năng suất cao hơn, giá trị gia tăng lớn hơn và khả năng kết nối quốc tế mạnh hơn.

Theo tôi, biển đáp ứng đầy đủ những điều kiện đó.

Nhưng chúng ta cũng cần thay đổi cách hiểu về tăng trưởng từ biển. Nếu chỉ kỳ vọng khai thác thêm dầu khí, đánh bắt thêm hải sản hay mở thêm khu du lịch thì đóng góp sẽ có giới hạn. Điều biển có thể mang lại lớn hơn rất nhiều. Đó là khả năng hình thành những ngành kinh tế hoàn toàn mới, từ trung tâm trung chuyển quốc tế, logistics, vận tải biển, năng lượng ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao đến công nghệ sinh học biển và các dịch vụ số gắn với đại dương.

Điều quan trọng hơn nữa là những ngành này không chỉ tạo thêm giá trị cho riêng mình, mà còn làm giảm chi phí logistics, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản xuất trong nước, thu hút đầu tư chất lượng cao và mở rộng không gian hội nhập quốc tế. Nói cách khác, biển không chỉ tạo thêm GDP, mà còn góp phần nâng năng suất của toàn bộ nền kinh tế.

Vì vậy, nếu coi tăng trưởng hai con số chỉ là câu chuyện của tín dụng, đầu tư hay xuất khẩu thì sẽ rất khó đạt được. Muốn tạo ra một chu kỳ tăng trưởng mới, Việt Nam cần khai mở những động lực mới. Biển, theo tôi, chính là một trong những động lực quan trọng nhất.

w da nang 113079.jpg
Đến giai đoạn tới, biển phải trở thành không gian mở rộng của nền kinh tế, là nơi đất nước kết nối trực tiếp với các dòng chảy thương mại, công nghệ, vốn và tri thức của thế giới. 

Phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền biển

Ông từng cho rằng hiện diện kinh tế cũng là một cách khẳng định chủ quyền. Theo ông, phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền cần được nhìn nhận như thế nào trong bối cảnh hiện nay?

Tôi cho rằng trong một thế giới mở - mở cho cả cạnh tranh và liên kết phát triển - giữa phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền quốc gia không tồn tại sự đối lập. Một quốc gia biển mạnh không được tạo nên chỉ bằng sức mạnh quân sự hay lực lượng chấp pháp trên biển, mà còn bằng sức mạnh của nền kinh tế, của khoa học công nghệ và của chính cộng đồng doanh nghiệp.

Khi một quốc gia có những cảng biển hiện đại, đội tàu vận tải mạnh, doanh nghiệp logistics đủ sức cạnh tranh quốc tế, các trung tâm nghiên cứu biển, những dự án năng lượng ngoài khơi và những cộng đồng dân cư ổn định gắn bó với biển, thì sự hiện diện ấy tự thân đã tạo nên năng lực bảo vệ chủ quyền. Một thực thể kinh tế biển mạnh tự nó tạo sức mạnh hội tụ và liên kết phát triển toàn cầu. Đây là cấu trúc an ninh – chủ quyền và phát triển bền vững biển cho mọi quốc gia.

Chủ quyền không chỉ được khẳng định bằng tuyên bố hay các hoạt động quản lý nhà nước, mà còn bằng việc quốc gia có đủ năng lực tổ chức, khai thác và phát triển không gian biển của mình một cách hiệu quả, hòa bình và bền vững.

Chính vì vậy, tôi luôn cho rằng phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền phải được nhìn như hai mặt của cùng một chiến lược. Một nền kinh tế biển yếu thì rất khó tạo ra nền tảng vật chất cho việc bảo vệ chủ quyền lâu dài. Ngược lại, một môi trường biển ổn định và được bảo vệ tốt mới tạo điều kiện để doanh nghiệp yên tâm đầu tư, người dân yên tâm bám biển và các hoạt động kinh tế phát triển bền vững.

Đó cũng là lý do vì sao Nghị quyết 36 không tách riêng phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh và đối ngoại, mà đặt tất cả trong cùng một tầm nhìn chiến lược.

Nếu nhìn tới năm 2045, ông hình dung Việt Nam sẽ là một quốc gia biển như thế nào?

Tôi hy vọng đến năm 2045, khi nhắc đến Việt Nam, thế giới sẽ không chỉ nghĩ đến một quốc gia có đường bờ biển dài hay có nhiều bãi biển đẹp. Điều quan trọng hơn là Việt Nam phải được nhìn nhận như một quốc gia có năng lực biển, nghĩa là có khả năng chinh phục biển, tạo ra giá trị lớn từ đại dương, nhờ đó, có vị trí xứng đáng trong mạng lưới kinh tế biển toàn cầu.

Tôi mong khi đó Việt Nam sẽ có những cảng trung chuyển quốc tế đóng vai trò quan trọng trong khu vực; có các trung tâm logistics, dịch vụ hàng hải và tài chính biển hiện đại; có những doanh nghiệp Việt Nam đủ sức tham gia vào các chuỗi vận tải, năng lượng và công nghệ biển trên phạm vi quốc tế; có những viện nghiên cứu đại dương mạnh và làm chủ nhiều công nghệ mới trong khai thác, bảo vệ và quản trị biển.

Nhưng điều tôi kỳ vọng hơn cả là sự thay đổi về vị thế phát triển. Trong nhiều thập niên, chúng ta chủ yếu phát triển theo lối quảng canh trên đất liền. Đến giai đoạn tới, biển phải trở thành không gian mở rộng của nền kinh tế, là nơi đất nước kết nối trực tiếp với các dòng chảy thương mại, công nghệ, vốn và tri thức của thế giới. Khi đó, Việt Nam sẽ không còn là quốc gia “cạnh biển”, vẫn “đứng trước biển” vớỉ giấc mơ “vươn ra biển lớn” mà đích thực là một quốc gia biển mạnh.

Theo tôi, đó mới là ý nghĩa sâu xa của mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh của thế kỷ Đại dương - giàu cốt cách văn hóa biển và mạnh năng lực chinh phục đại dương.

Biển không chỉ giúp chúng ta giàu hơn. Biển sẽ góp phần quyết định Việt Nam đứng ở đâu trong trật tự kinh tế của thế kỷ XXI. Muốn đi tới vị trí đó, chúng ta phải bắt đầu ngay từ hôm nay bằng một tầm nhìn đủ lớn, một thể chế đủ mở và một đội ngũ doanh nghiệp đủ mạnh để cùng đất nước vươn ra đại dương.

Nguồn: vietnamnet.vn