Không gian kinh tế ven bờ của chúng ta đang ngày càng chật hẹp bởi sự đan xen của hàng hải, du lịch và nuôi trồng thủy sản. Để hiện thực hóa khát vọng làm giàu từ biển theo Nghị quyết 20, 'vươn khơi' không chỉ là khẩu hiệu, mà là con đường tất yếu.
Ở vùng biển cách bờ từ 50 đến 100 km, một dư địa kinh tế khổng lồ hàng trăm tỷ đô la mang tên 'điện gió ngoài khơi' đang chờ được đánh thức. Thế nhưng, con đường kéo luồng vốn tỷ đô ấy từ bản quy hoạch ra giữa đại dương hiện đang gặp phải những rào cản nào?
TS. Dư Văn Toán, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển sẽ mang đến góc nhìn đa chiều về vấn đề này, qua cuộc trò chuyện với phóng viên Chu Đức ngay sau đây.
PV: Thưa Tiến sĩ Dư Văn Toán, nhiều năm qua chúng ta luôn nói về khát vọng làm giàu từ biển. Nhưng thực tế là không gian ven bờ dường như đang chật hẹp dần bởi các hoạt động truyền thống. Với Nghị quyết 20, tư duy về "kinh tế biển xanh" của chúng ta đã có sự dịch chuyển mang tính chiến lược như thế nào để thực sự vươn ra biển lớn?
TS. Dư Văn Toán: Từ năm 2018, chúng ta đã có Nghị quyết 36 với chủ trương coi trọng bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế biển bền vững. Tiếp nối nền tảng đó, Nghị quyết 20 đã cụ thể hóa mạnh mẽ hơn mục tiêu phát triển kinh tế xanh gắn liền với định hướng xây dựng một 'quốc gia biển mạnh'.

Qua quá trình nghiên cứu, tôi nhận thấy chúng ta đã có rất nhiều kinh nghiệm phát triển ở vùng ven biển. Hiện nay, không gian ven bờ đang được khai thác tương đối dày đặc cho các lĩnh vực truyền thống như nuôi trồng, đánh bắt thủy sản, du lịch và dịch vụ hàng hải.
Tuy nhiên, nếu tiến xa hơn về phía Đông, cách bờ khoảng 3 đến 6 hải lý trở ra, thì dư địa không gian vẫn còn rất rộng rãi. Bắt nhịp với xu thế phát triển kinh tế biển xanh và giảm phát thải toàn cầu, thế giới đang hướng tới việc khai thác các dạng năng lượng tái tạo trên biển như điện mặt trời, điện gió ngoài khơi, năng lượng sóng và thủy triều.
Đây là những ngành công nghiệp phát thải thấp, không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn giúp chúng ta tích lũy lượng lớn cacbon xanh dương.
Với Nghị quyết 20, chúng ta không thể chỉ bó hẹp tư duy phát triển kinh tế ở vùng biển ven bờ như trước đây. Hiện tại, chúng ta đã bắt đầu có những cơ sở, dự án kinh tế trải dài từ Bắc vào Nam, vươn xa cách bờ từ 50 đến 100 km. Việc dịch chuyển không gian khai thác này chính là nền tảng cốt lõi để Việt Nam thực sự trở thành một quốc gia biển mạnh từ ngoài khơi xa, chứ không chỉ là một quốc gia kinh tế biển ven bờ.
PV: Khi vươn ra khơi xa, điện gió đang được xem là ngành kinh tế mũi nhọn. Chúng ta có quy hoạch rất lớn cho giai đoạn tới năm 2050 với số vốn đầu tư có thể lên tới hàng trăm tỷ đô la. Đánh giá từ góc độ nghiên cứu của ông, dư địa thực sự của ngành này không chỉ dừng lại ở năng lượng, mà nó sẽ kéo theo những chuỗi giá trị nào khác?
TS. Dư Văn Toán: Không gian biển của chúng ta rộng khoảng 1 triệu km2, trong đó vùng biển ven bờ chiếm khoảng 600.000 km2. Đặc biệt, những vùng có độ sâu dưới 60 mét đạt diện tích gần 200.000 km2, đây là điều kiện rất lý tưởng để hoàn toàn có thể xây dựng các trang trại điện gió.
Chúng ta đã có kinh nghiệm và năng lực thi công thực tế từ các dự án ven bờ, do đó việc vươn ra ngoài khơi để làm từ 5.000 đến 10.000 cột gió là hoàn toàn khả thi. Đây là một hệ thống hạ tầng mới bao gồm xây dựng công trình, vận hành, bảo dưỡng, cùng các dịch vụ logistic và cầu cảng.
Nếu chúng ta phát triển được vài nghìn cột điện gió ngoài khơi, nó không chỉ kéo theo sự phát triển của các ngành nghề khác như nuôi biển hay du lịch, mà khi đã làm chủ được công nghệ, chúng ta hoàn toàn có thể xuất khẩu các dịch vụ và hàng hóa này sang các quốc gia khác ở Châu Á, Châu Âu.

PV: Dư địa và sức kéo là rất rõ ràng. Nhưng thưa ông, để biến những bản quy hoạch đó thành thực tế, để các tập đoàn lớn yên tâm rót vốn vào hàng nghìn cột gió trên biển như ông vừa nói, thì đâu là điểm nghẽn về thể chế và quản lý không gian mà chúng ta buộc phải tháo gỡ lúc này?
TS. Dư Văn Toán: Sau Nghị quyết 20 về kinh tế biển, điều tôi rất mong mỏi là chúng ta sẽ sớm có một 'Chiến lược phát triển điện gió ngoài khơi' được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Thời gian qua, chúng ta đã có chiến lược phát triển năng lượng tái tạo nói chung và quy hoạch điện nói riêng, nhưng điện gió ngoài khơi là một ngành kinh tế biển vô cùng phức tạp, đòi hỏi phải có một chiến lược chuyên biệt và cụ thể hơn.
Quy hoạch thường chỉ mang tính hiện thời, trong khi chiến lược mới có tầm nhìn xa, dài hạn. Việc ban hành chiến lược này chính là nền tảng để tạo dựng một ngành công nghiệp phụ trợ dài hạn. Quan trọng hơn, đây được xem như một bản 'cam kết' nhằm tạo sự thống nhất về tầm nhìn giữa Chính phủ với các tập đoàn nòng cốt trong nước và các nhà đầu tư quốc tế.
Đi kèm với chiến lược, chúng ta phải cụ thể hóa ngay việc phân bổ không gian biển cho ngành điện gió ngoài khơi. Hiện tại, không gian biển của chúng ta đang là không gian dùng chung, đan xen bởi rất nhiều lĩnh vực kinh tế như: hàng hải, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, du lịch, cùng các dịch vụ sửa chữa hay cứu hộ cứu nạn.
Do đó, bài toán đặt ra là phải tích hợp không gian quy hoạch một cách hài hòa. Đặc biệt, tôi cho rằng cần xem xét nâng cấp điện gió ngoài khơi lên vị trí số 1 hoặc số 2 trong khung 6 ngành kinh tế biển. Hiện nay, ngành này đang bị xếp ở vị trí thứ 6, khiến nó rơi vào tình trạng khá yếu thế, thường phải nhường không gian khi xảy ra xung đột lợi ích với các ngành kinh tế khác.
Đặc biệt, để hiện thực hóa những không gian và tiềm năng khổng lồ đó, chúng ta bắt buộc phải có tầm nhìn và quyết sách đột phá từ Trung ương. Chỉ khi Trung ương có quyết sách rõ ràng, tiến hành phân bổ và bàn giao không gian phát triển điện gió ngoài khơi cùng hệ thống hạ tầng ven biển liên quan về cho các cấp tỉnh, thì địa phương mới có đủ cơ sở để dễ dàng triển khai thực hiện.
Hiện tại, cả chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng lẫn nhà đầu tư đều đang tỏ ra rất lúng túng trong các khâu như: đưa dự án vào quy hoạch, cấp phép khảo sát, hay lập hồ sơ cập nhật vào Quy hoạch điện VIII. Các văn bản hướng dẫn vẫn đang trong quá trình xây dựng nên hành lang pháp lý hiện hành còn tương đối mơ hồ, gây e ngại cho cả nhà đầu tư trong nước và quốc tế.
Mặc dù vậy, một tín hiệu tích cực là điểm nghẽn về việc cấp phép ra biển khảo sát bước đầu đã được khơi thông trong năm 2026. Theo thống kê của tôi, đến nay đã có khoảng 16 giấy phép khảo sát được cấp, với tổng công suất dự kiến có thể lên tới 15.000 đến 20.000 MW. Nếu các dự án này hoàn thành giai đoạn khảo sát trong vòng 3 năm và đáp ứng đủ điều kiện xin phép đầu tư, chúng ta hoàn toàn có thể bám sát và đạt được mục tiêu 15.000 MW điện gió ngoài khơi vào năm 2035 như định hướng đã đề ra.
PV: Vâng, từ quy hoạch không gian biển nh bạch đến một chiến lược pháp lý dài hạn chính là chìa khóa để gỡ thế "lúng túng" hiện nay, giúp chúng ta thực sự làm chủ được kinh tế biển từ ngoài khơi xa. Rất cảm ơn Tiến sĩ Dư Văn Toán với những phân tích thực tiễn vừa rồi!
Nguồn: Nghị quyết 20 về quốc gia biển mạnh và dư địa khổng lồ “điện gió ngoài khơi”