Nuôi biển An Giang: Tháo gỡ điểm nghẽn, phát triển bền vững

Sở hữu không gian biển rộng, hệ thống đảo phong phú và dư địa phát triển lớn, An Giang đứng trước cơ hội chuyển đổi nuôi biển từ sản xuất phân tán, quy mô hộ gia đình sang ngành kinh tế hiện đại. Tuy nhiên, quy hoạch, vốn đầu tư, công nghệ, con giống, liên kết thị trường và bảo vệ môi trường... vẫn là những bài toán cần lời giải đồng bộ để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
2_1793115798.jpg
Quang cảnh buổi Hội thảo “Phát triển bền vững nuôi biển tỉnh An Giang giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045”

Tiềm năng lớn nhưng cần chuyển từ nuôi biển truyền thống sang sản xuất có tổ chức

Ngày 27/10, UBND tỉnh An Giang tổ chức Hội thảo “Phát triển bền vững nuôi biển tỉnh An Giang giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, với sự tham gia của đại diện Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các cơ quan chuyên môn, nhà khoa học, doanh nghiệp, ngân hàng và địa phương...

Hội thảo đặt ra yêu cầu không chỉ nhận diện tiềm năng mà còn phải xác định những điểm nghẽn về thể chế, tổ chức sản xuất, công nghệ và thị trường để đưa nuôi biển phát triển theo hướng công nghiệp, hiện đại, bền vững.

1_1793115800.jpg
Ông Hồ Văn Mừng, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang phát biểu khai mạc Hội thảo

Phát biểu khai mạc, ông Hồ Văn Mừng, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang, nhấn mạnh phát triển nuôi biển không đơn thuần là mở rộng diện tích hay gia tăng sản lượng, mà mục tiêu cao hơn là hình thành ngành nuôi biển có năng suất, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh cao, thích ứng với biến đổi khí hậu, nâng cao thu nhập cho người dân, đồng thời bảo vệ hệ sinh thái biển…

Theo báo cáo của ông Lê Hữu Toàn, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, tỉnh có vùng biển rộng khoảng 63.290 km², đường bờ biển dài trên 200 km và hơn 140 hòn đảo lớn, nhỏ… Không gian biển trải rộng từ Phú Quốc, Nam Du, Kiên Hải đến Bà Lụa, Hải Tặc và Thổ Châu, tạo điều kiện phát triển nhiều hình thức nuôi thủy sản khác nhau.

4_1793115802.jpg
Ông Lê Hữu Toàn, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang báo cáo tại Hội thảo

Giai đoạn 2021 - 2026, sản lượng nuôi biển toàn tỉnh tăng từ 69.269 tấn lên khoảng 133.000 tấn, với tốc độ tăng trưởng bình quân theo báo cáo đạt 13,9%/năm. Diện tích nuôi nhuyễn thể dự kiến đạt 24.950 ha trong năm 2026; sản lượng khoảng 113.156 tấn. Số lượng lồng nuôi cá biển dự kiến tăng lên 6.115 lồng, với sản lượng khoảng 7.000 tấn.

Những con số này cho thấy nuôi biển đã đóng góp đáng kể vào sản xuất thủy sản của địa phương... Tuy nhiên, tăng trưởng sản lượng chưa đồng nghĩa ngành nuôi biển đã chuyển đổi thành công sang mô hình hiện đại. Theo đánh giá được nêu tại hội thảo, hoạt động nuôi biển vẫn còn phân tán, quy mô nhỏ, phụ thuộc nhiều vào phương thức truyền thống, thiếu liên kết chuỗi và chưa đồng bộ về tiêu chuẩn kỹ thuật.

Đây chính là khoảng cách giữa tiềm năng tài nguyên và năng lực tổ chức sản xuất, nếu chỉ gia tăng số lượng lồng bè, mở rộng diện tích nuôi mà chưa kiểm soát được chất lượng đầu vào, môi trường, dịch bệnh và đầu ra, tăng trưởng có thể kéo theo rủi ro lớn hơn cho người nuôi lẫn hệ sinh thái.

5_1793115802.jpg
PGS,TS. Nguyễn Chu Hồi, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam

Từ góc độ này, PGS,TS. Nguyễn Chu Hồi, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, đặt vấn đề phát triển nuôi biển An Giang trong bối cảnh mới, gắn với tổ chức không gian biển và yêu cầu phát triển kinh tế biển bền vững. PGS,TS. Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, đề xuất công nghiệp hóa ngành nuôi biển, trong đó có mô hình “Làng nuôi biển hiện đại”.

Theo hướng tiếp cận này, chuyển đổi không thể chỉ dừng ở thay lồng gỗ bằng lồng nhựa HDPE, mà điều cần thiết hơn là tổ chức lại hoạt động nuôi thành các khu, cụm có hạ tầng chung, tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất, dịch vụ đầu vào và đầu ra, kiểm soát môi trường, quản trị rủi ro và liên kết giữa các chủ thể sản xuất.

Mô hình làng nuôi biển hiện đại được đề xuất nhằm khắc phục tình trạng manh mún, giảm cạnh tranh nội bộ, nâng cao khả năng tiếp cận bảo hiểm, xây dựng thương hiệu và tăng sức mạnh thị trường... Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam cũng đề nghị tỉnh An Giang nghiên cứu thí điểm mô hình kết hợp nuôi biển với du lịch tại những khu vực phù hợp, đồng thời thu hút doanh nghiệp đầu tư vào vùng biển mở, xa bờ.

6_1793115806.jpg
PGS,TS. Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam đề nghị An Giang nghiên cứu thí điểm mô hình kết hợp nuôi biển với du lịch…

Tuy vậy, công nghiệp hóa cần được triển khai trên cơ sở phân vùng chức năng biển, đánh giá sức tải môi trường, điều kiện thủy động lực và khả năng chống chịu thiên tai. Không phải khu vực nào cũng phù hợp với mọi đối tượng nuôi hoặc hình thức đầu tư. Việc mở rộng quy mô phải đi cùng đánh giá tác động môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học, nguồn lợi giống tự nhiên và hài hòa với du lịch, giao thông hàng hải, bảo tồn biển, quốc phòng, an ninh.

Vì vậy, quy hoạch không gian nuôi biển cần trở thành nền tảng của quá trình chuyển đổi, thay vì chỉ là thủ tục hành chính đi trước các dự án đầu tư.

Tháo gỡ đồng bộ về vốn, công nghệ và thị trường để tạo chuỗi giá trị

Một trong những vấn đề nổi bật được đặt ra tại Hội thảo là khả năng tiếp cận vốn và công nghệ của người nuôi, việc chuyển đổi sang lồng HDPE có khả năng chịu sóng gió tốt hơn là hướng đi cần thiết, nhưng chi phí đầu tư ban đầu có thể vượt quá khả năng tài chính của nhiều hộ dân. Nếu không có cơ chế tín dụng phù hợp, hỗ trợ kỹ thuật và phương án hoàn vốn khả thi, chủ trương chuyển đổi khó đạt quy mô rộng.

15_1793115822.jpg

16_1793115823.jpg

17_1793115823.jpg
Các đại biểu tham dự hội thảo

Từ góc độ chính sách về định hướng phát triển nuôi biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và các cơ chế khuyến khích đầu tư, đồng thời qua báo cáo về thực trạng trong việc phát triển nuôi biển địa phương… Các nội dung này đã đặt nền tảng cho việc cụ thể hóa chính sách quốc gia thành giải pháp phù hợp với điều kiện của tỉnh.

Tại hội thảo, PGS,TS. Võ Văn Nha, Phó Giám đốc Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam, trình bày đề xuất về các đối tượng nuôi biển tiềm năng. Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả đầu tư, bởi lựa chọn đối tượng nuôi cần dựa trên điều kiện sinh thái, khả năng chủ động con giống, công nghệ nuôi, nhu cầu thị trường và hiệu quả kinh tế, thay vì chỉ căn cứ vào giá bán hoặc mức độ phổ biến.

7_1793115807.jpg
PGS,TS. Võ Văn Nha, Phó Giám đốc Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam

ThS. Nguyễn Tiến Long, Phó Chủ tịch kiêm Giám đốc chiến lược Công ty Cổ phần AVP Captain, đề cập ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và giải pháp tài chính cho ngành nuôi biển. Bài toán đặt ra là làm thế nào để công nghệ thực sự giúp giảm chi phí, kiểm soát rủi ro và nâng cao năng suất, thay vì trở thành khoản đầu tư bổ sung mà người nuôi khó thu hồi vốn.

Đối với chuyển đổi lồng bè, bà Nguyễn Thị Hải Bình, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn STP, trình bày chính sách doanh nghiệp đồng hành cùng người dân ứng dụng lồng nuôi công nghệ cao HDPE. Tuy nhiên, để mô hình này phát huy hiệu quả, cần làm rõ cơ chế hỗ trợ, phương thức thuê hoặc trả góp, trách nhiệm bảo trì và khả năng tiếp cận tín dụng. Liên kết giữa doanh nghiệp cung ứng, tổ chức tín dụng và người nuôi chỉ bền vững khi lợi ích, rủi ro và nghĩa vụ của mỗi bên được xác định minh bạch.

12_1793115817.jpg
Bà Nguyễn Thị Hải Bình, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn STP.

Một điểm nghẽn khác là nguồn cung con giống, thức ăn và năng lực kiểm soát môi trường... Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Hồ Văn Mừng đặt vấn đề về sự phụ thuộc vào giống tự nhiên hoặc nguồn giống từ địa phương khác, cũng như việc sử dụng cá tạp làm thức ăn cho cá nuôi biển. Những hạn chế này có thể ảnh hưởng đến tính ổn định của sản xuất, chất lượng sản phẩm và khả năng kiểm soát chất thải.

Do đó, nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo, tối ưu khẩu phần ăn, kiểm soát hệ số chuyển đổi thức ăn và xây dựng hệ thống quan trắc môi trường cần được xem là các nhiệm vụ trọng tâm. Việc lựa chọn đối tượng nuôi mới như cá chim vây vàng, ghẹ xanh, sò huyết, mực lá hay cầu gai cũng cần có cơ sở khoa học, quy trình kỹ thuật và đánh giá hiệu quả trước khi nhân rộng.

11_1793115816.jpg
Bà Trần Thuỵ Quế Phương, Phó Tổng thư ký VASEP trình bày tại Hội thảo.

Ở khâu tiêu thụ, đại diện Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) trình bày thực trạng công nghiệp chế biến sản phẩm nuôi biển Việt Nam và đề xuất giải pháp cho An Giang. Định hướng được đặt ra là phát triển vùng nuôi gắn với nhu cầu nguyên liệu của doanh nghiệp chế biến và thị trường xuất khẩu; đầu tư hạ tầng thu hoạch, bảo quản, logistics; chuẩn hóa vùng nuôi và truy xuất nguồn gốc từ đầu.

Đây là yêu cầu quan trọng để tránh tình trạng sản xuất trước, tìm đầu ra sau, khi đó, việc nuôi biển muốn trở thành ngành hàng có sức cạnh tranh cần xây dựng chuỗi liên kết từ giống, thức ăn, nuôi thương phẩm, thu hoạch, chế biến đến phân phối và xuất khẩu… Vì vậy, muốn sản lượng tăng phải đi cùng khả năng tiêu thụ, tiêu chuẩn chất lượng và giá trị gia tăng.

9_1793115810.jpg
Ông Lê Bền, Phó Giám đốc Công ty TNHH Trí Tín.

Đáng chú ý hơn, ở hướng đa dạng hóa sinh kế, ông Nguyễn Tất Hoàn, đại diện Công ty Du thuyền Ngựa Biển, trình bày giải pháp sử dụng, chuyển đổi tàu cá để phục vụ du lịch và nuôi biển tự nhiên. Ông Hoàng Ngọc Bình, đại diện Công ty TNHH Thủy sản Australis Việt Nam, đề cập định hướng chuyển giao kỹ thuật, ứng dụng công nghệ cao và liên kết tiêu thụ sản phẩm cho người dân. Ông Lê Bền, Phó Giám đốc Công ty TNHH Trí Tín, giới thiệu mô hình trồng rong biển giảm phát thải; trong khi mô hình nuôi trai ngọc gắn với bảo tồn biển của Công ty TNHH MTV Ngọc trai Ngọc Hiền được nêu như một hướng kết hợp sản xuất với du lịch sinh thái.

Những mô hình này mở ra khả năng đa dạng hóa giá trị kinh tế biển, song cần được đánh giá trên cơ sở hiệu quả thực tế, tính khả thi về thị trường và tác động môi trường. Đối với các mô hình rong biển giảm phát thải, cần có phương pháp đo lường, kiểm chứng phù hợp trước khi xác định hiệu quả giảm phát thải khí nhà kính.

10_1793115812.jpg
PGS,TS. Thái Thanh Bình, Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật và Thủy sản trình bày về yêu cầu đào tạo nhân lực chuyên nghiệp cho nuôi biển…

Về bảo tồn, ThS. Bùi Thị Thu Hiền, đại diện Tổ chức IUCN tại Việt Nam, trình bày nội dung nuôi biển gắn với các vùng bảo tồn liên kết (OECM), hướng đến xây dựng thương hiệu xanh. TS. Hoàng Xuân Bền, Phó Viện trưởng Viện Hải dương học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, chia sẻ kinh nghiệm Quốc tế về nuôi biển tự nhiên và đề xuất cho An Giang. PGS,TS. Thái Thanh Bình, Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật và Thủy sản, đề cập yêu cầu đào tạo nhân lực chuyên nghiệp cho nuôi biển…

Các nội dung này cho thấy phát triển nuôi biển hiện đại không chỉ là câu chuyện đầu tư thiết bị mà còn đòi hỏi nguồn nhân lực có chuyên môn, năng lực quản trị, hệ thống tiêu chuẩn và cơ chế giám sát môi trường.

Từ những vấn đề được đặt ra, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Hồ Văn Mừng đề nghị tập trung thảo luận bảy nhóm nội dung: tháo gỡ điểm nghẽn thể chế; huy động vốn và chuyển đổi lồng HDPE; chủ động con giống, thức ăn và kiểm soát dịch bệnh; liên kết doanh nghiệp với người dân; nghiên cứu mô hình làng nuôi biển hiện đại; phát triển kinh tế tuần hoàn, bảo tồn liên kết và chuyển đổi số; đào tạo nguồn nhân lực. Trọng tâm là xác định rõ vướng mắc, trách nhiệm và giải pháp có thể triển khai, thay vì dừng ở các định hướng chung.

14_1793115821.jpg
Tại Hội thảo, đã diễn ra Lễ ký kết thoả thuận hợp tác phát triển nuôi biển bền vững giai đoạn 2026 - 2030 giữa Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam và UBND tỉnh An Giang

Giai đoạn 2026 - 2030 cần được xem là thời kỳ tạo nền tảng cho chuyển đổi mô hình nuôi biển của An Giang. Muốn vậy, tỉnh cần ưu tiên những vùng nuôi có điều kiện phù hợp, hoàn thiện thủ tục giao khu vực biển, công khai quy trình quản lý, thúc đẩy liên kết doanh nghiệp - hợp tác xã - người dân và lựa chọn các mô hình thí điểm có khả năng nhân rộng.

Đồng thời, các chỉ tiêu phát triển không nên chỉ tập trung vào sản lượng, diện tích hay số lượng lồng nuôi, mà cần bổ sung những tiêu chí về hiệu quả kinh tế, thu nhập người nuôi, mức độ liên kết chuỗi, chất lượng sản phẩm, sức tải môi trường và khả năng chống chịu thiên tai.

Tầm nhìn đến năm 2045 chỉ có thể trở thành hiện thực nếu các mục tiêu được chuyển thành kế hoạch hành động có nguồn lực, tiến độ và cơ chế giám sát cụ thể. Phát triển nuôi biển bền vững không phải là nuôi nhiều hơn bằng mọi giá, mà là tổ chức sản xuất hiệu quả hơn, tạo giá trị cao hơn và bảo đảm lợi ích hài hòa giữa Nhà nước, doanh nghiệp, người dân với hệ sinh thái biển.

popup

Số lượng:

Tổng tiền:

Email Gọi ngay Facebook
Facebook Chat Icon Xin chào!
Mình có thể giúp gì bạn
hiephoinuoibienvietnam