Sáu mũi nhọn công nghệ đưa thủy sản Việt Nam bứt phá

Làm chủ giống, giảm kháng sinh, tối ưu thức ăn, số hóa chuỗi giá trị... là hướng đi để thủy sản Việt Nam tăng năng suất, giảm chi phí, đáp ứng tốt thị trường.

Tại Hội nghị khoa học, công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc lần thứ nhất năm 2026, PGS.TS Đặng Thị Lụa, Giám đốc Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam đề xuất các định hướng trọng tâm về công nghệ phục vụ phát triển bền vững thủy sản Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030.

PGS.TS Đặng Thị Lụa, Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam. Ảnh: Nguyễn Thủy.
PGS.TS Đặng Thị Lụa, Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam. Ảnh: Nguyễn Thủy.

Làm chủ nguồn giống chất lượng cao

Theo PGS.TS Đặng Thị Lụa, trên cơ sở kế thừa các thành công, năng lực và chuyên môn của các Viện hợp thành, Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam thời gian qua đã đạt nhiều thành tựu nổi bật. Các kết quả KHCN của Viện không chỉ dừng lại ở nghiên cứu mà đã được chuyển giao cho doanh nghiệp và ngư dân thông qua các hợp đồng chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực thủy sản. Đây là minh chứng rõ ràng cho sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, cũng như đóng góp của khoa học công nghệ cho ngành.

Trong lĩnh vực chọn tạo giống, trước hết phải kể đến chương trình chọn giống cá chép. Trước năm 2000, Viện đã thành công trong việc lai tạo cá chép giữa ba dòng Việt Nam, Hungary và Indonesia, tạo ra dòng cá chép lai V1 có tốc độ tăng trưởng vượt 15-20% so với các dòng bản địa. Sau hơn 20 năm phát triển, đến nay dòng cá chép V1 vẫn được thị trường ghi nhận, với tốc độ sinh trưởng đạt 1-1,2kg sau thời gian nuôi 6-8 tháng. Công trình nghiên cứu này đã được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh.

Tiếp nối thành công của chương trình chọn giống cá chép, Viện đã và đang triển khai nhiều chương trình chọn giống trên các đối tượng như cá rô phi vằn, cá rô phi đỏ, tôm sú, tôm thẻ chân trắng và tôm càng xanh theo tính trạng sinh trưởng nhanh; chọn giống cá tra theo tính trạng sinh trưởng nhanh cũng như kháng bệnh.

Gần đây, Viện tiếp tục mở rộng chương trình chọn giống trên các đối tượng cá biển như cá chẽm, cá chim vây vàng và một số đối tượng nhuyễn thể.

Những kết quả này từng bước thể hiện vai trò của Viện trong việc tự chủ nguồn con giống chất lượng cao cho ngành. Hằng năm, Viện cung cấp hàng trăm nghìn con giống bố mẹ, hậu bị chất lượng cao cho các cơ sở sản xuất, làm nền tảng phát triển ngành nuôi trồng thủy sản bền vững.

Trong lĩnh vực công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm, Viện đã làm chủ quy trình công nghệ sản xuất giống hàng loạt trên nhiều đối tượng thủy sản, từ các loài truyền thống, đặc sản như cá lăng, cá chiên đến các loài cá biển như cá song, cá chim vây vàng, gần đây là cá nục bông dâu, cá cam, cũng như các đối tượng nhuyễn thể và giáp xác. Viện cũng tiên phong đưa cá nước lạnh vào Việt Nam.

"Việc làm chủ công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá hồi vân, cá tầm... không chỉ mở ra một lĩnh vực nuôi trồng mới, mà còn góp phần nâng cao sinh kế cho người dân vùng cao nguyên và miền núi phía bắc, trong đó có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, qua đó đóng góp vào bảo đảm an sinh xã hội", PGS Lụa nhấn mạnh.

PGS Lụa cho biết thêm, Viện đã nghiên cứu và ứng dụng thành công các công nghệ tiên tiến như biofloc, Copefloc và công nghệ nuôi tuần hoàn trong ương nuôi các đối tượng chủ lực như cá rô phi, cá nước lạnh, cá tra.

Gần đây, thông qua các chương trình nghiên cứu trong nước và quốc tế, Viện cũng làm chủ công nghệ nuôi cá lồng trên biển, hệ thống lồng HDPE quy mô công nghiệp; đồng thời bước đầu thành công trong nuôi cấy dòng tảo biển bằng công nghệ nuôi mô.

Trong lĩnh vực công nghệ sinh học, thức ăn, quản lý môi trường và sức khỏe động vật thủy sản, hằng năm Viện triển khai các chương trình quan trắc môi trường tại những vùng nuôi tập trung, trọng điểm, góp phần phục vụ trực tiếp công tác chỉ đạo sản xuất.

Viện cũng đã và đang phối hợp nghiên cứu, xác định tác nhân, nguyên nhân gây bệnh đối với các bệnh nguy hiểm thường gặp cũng như bệnh mới nổi trên các đối tượng nuôi thủy sản, góp phần xây dựng cơ sở khoa học để đề xuất giải pháp phòng trị bệnh và cảnh báo dịch bệnh.

Đối với các đối tượng nuôi mới đưa vào hoạt động nuôi trồng thủy sản, Viện triển khai các chương trình nghiên cứu về dinh dưỡng, góp phần phát triển quy trình công nghệ nuôi cũng như công thức thức ăn phù hợp. Cụ thể, Viện đã xây dựng thành công công thức thức ăn chuyên biệt cho cá chim vây vàng và công nghệ này đã được chuyển giao cho Tập đoàn TH. Viện cũng thành công trong nghiên cứu công thức thức ăn nhằm nâng cao hàm lượng axit béo không no trong thức ăn cá tra, giúp giảm chi phí thức ăn, giảm hệ số FCR; kết quả nghiên cứu đã được chuyển giao cho Tập đoàn Vĩnh Hoàn.

Trong lĩnh vực khai thác hải sản và công nghệ sau thu hoạch, Viện đã nghiên cứu thành công công nghệ đèn LED ứng dụng trên tàu lưới chụp đại dương, giúp giảm chi phí sản xuất, tiết kiệm nhiên liệu và giảm phát thải CO₂.

Ngoài ra, Viện cũng thiết kế các mẫu mắt lưới thoát cá con, ứng dụng hệ thống tời thủy lực giúp giảm chi phí trong quá trình đánh bắt. Đặc biệt, Viện đã thành công trong ứng dụng công nghệ nano và đá sệt trong bảo quản cá ngừ đại dương, mực ống; đồng thời nghiên cứu chế biến một số sản phẩm giá trị gia tăng từ thủy sản.

Khai mạc Triển lãm quốc tế khoa học công nghệ thủy sản Việt Nam lần thứ nhất năm 2026 - VinaFis Expo 2026. Ảnh: Hồng Thủy.
Khai mạc Triển lãm quốc tế khoa học công nghệ thủy sản Việt Nam lần thứ nhất năm 2026 - VinaFis Expo 2026. Ảnh: Hồng Thủy.

Công nghệ dẫn lối

Trên cơ sở những thành công đã đạt được, PGS.TS Đặng Thị Lụa đề xuất 6 định hướng trọng điểm về công nghệ để phát triển ngành thủy sản trong giai đoạn tới.

Thứ nhất, đối với lĩnh vực chọn tạo giống, cần tiếp tục tạo ra các giống mới trên cơ sở kết hợp giữa công nghệ di truyền, chọn giống số lượng và ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử như giải trình tự hệ gen, chỉ thị phân tử, nhằm phát huy ưu thế lai của các tính trạng chọn giống về sinh trưởng, kháng bệnh, tăng tỷ lệ phi lê hoặc giảm tỷ lệ xương dăm. Đồng thời, các công nghệ này sẽ giúp rút ngắn thời gian nghiên cứu tạo giống mới, hướng tới mục tiêu 100% tự chủ nguồn con giống chất lượng cao đối với các đối tượng chủ lực.

Thứ hai, tập trung nghiên cứu, phát triển các công nghệ mới trong sản xuất vaccin thế hệ mới, cũng như nghiên cứu chế phẩm sinh học, nano, hướng tới xây dựng các mô hình nuôi trồng thủy sản giảm thiểu kháng sinh và không sử dụng kháng sinh.

Thứ ba, tập trung nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thức ăn và dinh dưỡng thông minh, nguyên liệu mới và quản trị dinh dưỡng để xây dựng các mô hình giúp giảm chi phí thức ăn, giảm hệ số sử dụng thức ăn, qua đó nâng cao năng suất và hiệu quả của các mô hình nuôi trồng thủy sản.

Thứ tư, tập trung nghiên cứu công nghệ mới, công nghệ xanh và tự động hóa để xây dựng các mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu, các mô hình tiên tiến giúp giảm tác động đến môi trường cũng như giảm phát thải.

Thứ năm, trong lĩnh vực khai thác, cần chú trọng đẩy mạnh nghiên cứu công nghệ chế biến sâu nhằm nâng cao hiệu quả khai thác, đồng thời xây dựng các mô hình nuôi trồng theo hướng kinh tế tuần hoàn để gia tăng giá trị sản phẩm thủy sản.

Ngoài ra, đẩy mạnh công nghệ số và AI trong phát triển các mô hình thủy sản, cũng như quản trị theo hướng minh bạch, thông minh và có trách nhiệm, phù hợp với xu thế phát triển quốc tế.

"Công nghệ không chỉ là công cụ, mà là sức sống của ngành thủy sản Việt Nam trong thời gian tới. Việc làm chủ công nghệ sinh học và chuyển đổi số sẽ là "cú hích" để ngành thủy sản không chỉ vượt qua các rào cản quốc tế mà còn dẫn đầu về giá trị xuất khẩu trong khu vực.

Để làm được điều đó, cần tăng cường mối liên kết giữa ba nhà: nhà quản lý, nhà khoa học và doanh nghiệp. Từ đó, đưa kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ đi vào thực tiễn sản xuất một cách nhanh chóng. Chuyển từ cơ chế cấp phát sang "đặt hàng" sản phẩm khoa học công nghệ cuối cùng và doanh nghiệp là trung tâm của đổi mới sáng tạo", PGS.TS Đặng Thị Lụa nhấn mạnh.

Theo PGS.TS Đặng Thị Lụa, chuyển đổi số không chỉ là đưa phần mềm vào sản xuất, mà là thay đổi cách quản trị từ kinh nghiệm sang dữ liệu. Khi dữ liệu khai thác, nuôi trồng, dịch bệnh, môi trường và truy xuất nguồn gốc được kết nối, ngành thủy sản có thể quản lý theo thời gian thực, giảm rủi ro và nâng uy tín trên thị trường quốc tế. "Công nghệ phải đi vào từng ao nuôi, con tàu, nhà máy và từng mắt xích của chuỗi giá trị thủy sản Việt Nam", PGS. TS Đặng Thị Lụa nhấn mạnh.

popup

Số lượng:

Tổng tiền:

Email Gọi ngay Facebook
Facebook Chat Icon Xin chào!
Mình có thể giúp gì bạn
hiephoinuoibienvietnam