Thủy sản Việt Nam kiên cường trước 'gió ngược', vươn ra thế giới

Mới đây, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) có Công văn số 39 báo cáo tổng kết tình hình thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Khẳng định vai trò tiên phong trong kinh tế biển bền vững

VASEP cho hay, ngành thủy sản được xác định là một trong những trụ cột quan trọng của kinh tế biển Việt Nam, với chuỗi giá trị tương đối hoàn chỉnh bao gồm các hoạt động khai thác hải sản, nuôi trồng thủy sản, chế biến, logistics, dịch vụ hậu cần nghề cá và xuất khẩu, qua đó không chỉ đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế quốc gia mà còn đóng vai trò thiết yếu trong việc tạo sinh kế cho hàng triệu lao động tại các địa phương ven biển, ĐBSCL và nhiều khu vực nông thôn phụ cận.


Ngành thủy sản được xác định là một trong những trụ cột quan trọng của kinh tế biển Việt Nam. Ảnh: Hồng Thắm.

Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết số 36-NQ/TW từ năm 2018 đến nay, ngành thủy sản đã từng bước phát huy vai trò tiên phong trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững, thông qua việc kết hợp hài hòa giữa khai thác và bảo vệ nguồn lợi tài nguyên biển, mở rộng nuôi trồng thủy sản theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành chế biến và thúc đẩy hội nhập sâu rộng vào chuỗi cung ứng thủy sản toàn cầu.

Đặc biệt, trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động và các tiêu chuẩn quốc tế ngày càng khắt khe, cộng đồng doanh nghiệp thủy sản Việt Nam đã chủ động thích ứng thông qua việc nâng cao năng lực quản trị, đầu tư công nghệ chế biến hiện đại, cải thiện truy xuất nguồn gốc và đáp ứng các yêu cầu về phát triển bền vững, qua đó tiếp tục khẳng định vị thế của thủy sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Trở thành một trong ba quốc gia xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới

Trong giai đoạn 2019 - 2025, mặc dù phải đối mặt với nhiều biến động của kinh tế thế giới, ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, sự gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu cũng như các rào cản kỹ thuật, thương mại (thuế chống bán phá giá tại Mỹ, thẻ vàng IUU của châu Âu, Đạo luật bảo vệ thú biển của Mỹ...) ngày càng gia tăng tại nhiều thị trường nhập khẩu, ngành thủy sản Việt Nam vẫn duy trì được quy mô sản xuất và xuất khẩu tương đối ổn định, góp phần đưa ngành thủy sản Việt Nam vươn lên nằm trong nhóm 3 quốc gia cung cấp thủy sản lớn trên thế giới; đồng thời tiếp tục khẳng định vai trò là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của nền kinh tế.

Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong giai đoạn này dao động 8 - 11 tỷ USD mỗi năm, trong đó năm 2022 ghi nhận mức tăng trưởng đột biến đạt gần 11 tỷ USD, phản ánh sự phục hồi mạnh mẽ của nhu cầu thị trường sau giai đoạn suy giảm do đại dịch, đồng thời cho thấy năng lực thích ứng và khả năng tận dụng cơ hội thị trường của cộng đồng doanh nghiệp thủy sản Việt Nam.
Đặc biệt, năm 2025 vừa qua khép lại như một dấu mốc đặc biệt của ngành thủy sản Việt Nam - một năm mà “gió ngược” đến từ nhiều phía: Thị trường quốc tế biến động khó lường; rào cản thương mại - kỹ thuật và yêu cầu truy xuất, bền vững ngày càng khắt khe; trong khi nuôi trồng và khai thác tiếp tục chịu tác động của thời tiết cực đoan, bão lũ, dịch bệnh và áp lực chi phí.


Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong giai đoạn này dao động 8 - 11 tỷ USD mỗi năm. Ảnh: Hồng Thắm.

Nhưng trong bối cảnh ấy, tinh thần “Chủ động thích ứng - Đổi mới sáng tạo - Phát triển bền vững” đã trở thành kim chỉ nam cho nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp và toàn ngành. Nhờ sự linh hoạt trong điều hành, tái cơ cấu sản phẩm - thị trường và nâng cao năng lực tuân thủ, xuất khẩu thủy sản đã vươn lên đạt khoảng 11,3 tỷ USD - một thành quả đáng trân trọng, khẳng định bản lĩnh vượt khó và sự kiên trì bền bỉ của ngành.

Trong nhiều năm qua, nước ta đã duy trì vị trí là một trong ba quốc gia xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới, với sản phẩm thủy sản Việt Nam hiện diện tại hơn 160 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó các thị trường xuất khẩu quan trọng bao gồm: Mỹ, châu Âu, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Brazil...

Ngành tôm là trụ cột, cá tra có lợi thế cạnh tranh rõ rệt

Với ngành tôm, VASEP khẳng định, đây là trụ cột của xuất khẩu thủy sản Việt Nam khi xuất khẩu đạt trên 3 - 4 tỷ USD, chiếm khoảng 40 - 45% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế tại nhiều địa phương ven biển và vùng ĐBSCL.

Sau khi Nghị quyết 36 được ban hành, nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp và người nuôi tôm về phát triển bền vững kinh tế biển đã có nhiều chuyển biến tích cực. Các doanh nghiệp và địa phương ven biển ngày càng chú trọng phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững, gắn với bảo vệ hệ sinh thái ven biển, thích ứng với biến đổi khí hậu và sử dụng hợp lý tài nguyên biển.

Trong những năm qua, ngành tôm đã có những bước phát triển đáng kể về công nghệ nuôi. Nhiều mô hình sản xuất mới được hình thành như nuôi tôm - rừng, nuôi tôm - lúa, nuôi tôm sinh thái và nuôi tôm công nghệ cao, nhằm nâng cao năng suất, giảm thiểu rủi ro dịch bệnh và đáp ứng các yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế, đồng thời góp phần chuyển dịch từ phát triển theo chiều rộng sang nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

Còn với cá tra, VASEP nhấn mạnh, là một trong những sản phẩm đặc thù của Việt Nam, với lợi thế cạnh tranh rõ rệt trên thị trường quốc tế nhờ vào quy mô sản xuất lớn, chi phí cạnh tranh và chuỗi giá trị sản xuất tương đối hoàn chỉnh từ con giống, nuôi trồng, chế biến đến xuất khẩu.

Mặc dù sản xuất chủ yếu tập trung tại vùng ĐBSCL, nuôi trồng cá tra đã từng bước chuyển theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, gắn sản xuất với bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước và thích ứng với biến đổi khí hậu. Tư duy phát triển ngành cũng dần chuyển từ chú trọng sản lượng sang nâng cao chất lượng, hiệu quả, xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường và củng cố vị thế của cá tra Việt Nam trong chuỗi cung ứng thủy sản toàn cầu.

Trong nhiều năm qua, kim ngạch xuất khẩu cá tra thường chiếm khoảng 20 - 25% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, với các thị trường xuất khẩu chủ lực như: Mỹ, Trung Quốc, châu Âu...

Ngành cá tra Việt Nam hiện đã xây dựng được hệ thống doanh nghiệp chế biến quy mô lớn với quy trình khép kín từ con giống đến nuôi trồng, chế biến, xuất khẩu; Áp dụng công nghệ hiện đại, góp phần nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm và củng cố vị thế của Việt Nam trên thị trường cá thịt trắng toàn cầu.

Các sản phẩm hải sản (cá ngừ, cá biển, nhuyễn thể chân đầu (mực, bạch tuộc), cua ghẹ, nhuyễn thể có vỏ) được khai thác từ biển đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu từ 3 - 4 tỷ USD, chiếm 35 - 40%. Ngành khai thác hải sản đóng vai trò chiến lược, không chỉ tạo sinh kế, nâng cao thu nhập cho ngư dân mà còn là lực lượng "cột mốc sống" khẳng định và bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Sớm tháo gỡ các khoảng trống pháp lý, điểm nghẽn về pháp luật để phù hợp thực tiễn sản xuất, kinh doanh

Tuy đạt được những thành tựu quan trọng, nhưng VASEP cũng thẳng thắn chỉ rõ 5 tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc của ngành.

Một là, thể chế, pháp luật. Một số quy định pháp luật và chính sách liên quan đến phát triển kinh tế biển và nuôi trồng thủy sản còn chồng chéo, thiếu đồng bộ. Thủ tục hành chính trong một số lĩnh vực còn phức tạp, làm tăng chi phí tuân thủ của doanh nghiệp và kéo dài thời gian triển khai, ảnh hưởng đến kế hoạch đầu tư, mở rộng sản xuất của doanh nghiệp.

Hai là, quy hoạch và sử dụng không gian biển. Quy hoạch không gian biển chưa đồng bộ, ưu tiên cho du lịch, dịch vụ và hạ tầng ven bờ, khiến không gian nuôi trồng, khai thác thủy sản bị thu hẹp.

Ba là vốn và tài chính. Doanh nghiệp và đặc biệt nông ngư dân còn gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn trung và dài hạn để đầu tư công nghệ cao, cải tạo hạ tầng và phát triển chuỗi sản xuất bền vững.

Bốn là khoa học công nghệ và nguồn nhân lực. Việc ứng dụng khoa học công nghệ trong ngành thủy sản chưa đồng đều giữa các vùng, chủ yếu tập trung ở các doanh nghiệp lớn, nhiều hộ nuôi và cơ sở nhỏ còn hạn chế về vốn, công nghệ và nhân lực...


Trong nhiều năm qua, kim ngạch xuất khẩu cá tra thường chiếm khoảng 20 - 25% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Ảnh: Hoàng Vũ.

Năm là, hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ. Thiếu các cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão đồng bộ; Hệ thống dịch vụ tại các cảng cá còn chưa được đầu tư nhiều; Hạ tầng tại một số vùng nuôi, nhất là hệ thống cấp thoát nước, xử lý môi trường, điện và logistics còn chưa đồng bộ.
Xây dựng chiến lược phát triển nuôi biển công nghiệp quy mô quốc gia

Để tiếp tục thúc đẩy phát triển ngành thủy sản gắn với mục tiêu phát triển bền vững kinh tế biển nói chung, VASEP đề xuất một số kiến nghị.

Chính phủ tiếp tục hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách phát triển thủy sản bền vững, bảo đảm tính đồng bộ, ổn định và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất.

VASEP cho rằng, cần tiếp tục tháo gỡ các khoảng trống pháp lý và điểm nghẽn về pháp luật theo hướng linh hoạt, phù hợp thực tiễn sản xuất - kinh doanh và thông lệ quốc tế, định hướng theo 3 nhóm giải pháp đột phá: Xây dựng cơ chế cho phép và khuyến khích thu hút vốn tư nhân đầu tư vào hạ tầng thủy lợi, cấp thoát nước phục vụ nuôi trồng thủy sản; Luật hóa cơ chế cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đối với thủy sản nhập khẩu từ sản xuất - xuất khẩu, gia công xuất khẩu sang tiêu thụ nội địa và ngược lại; Bổ sung khung pháp lý cho phép miễn trừ đấu nối nước thải vào hệ thống xử lý nước thải của Khu công nghiệp đối với doanh nghiệp đã tự xử lý đạt chuẩn xả thải của QCVN.

Đặc biệt cần xây dựng chiến lược phát triển nuôi biển công nghiệp quy mô quốc gia; Phát triển các trung tâm chế biến thủy sản quy mô lớn gắn với vùng nguyên liệu. Bên cạnh đó, Đẩy mạnh đầu tư hạ tầng logistics và cảng cá hiện đại, xây dựng chợ đấu giá tại các cảng cá để minh bạch trong thu mua hải sản khai thác; Nâng cấp hệ thống thủy lợi, cấp thoát nước, điện phục vụ nuôi trồng thủy sản.

Về cơ chế, VASEP kiến nghị xây dựng các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (đặc biệt doanh nghiệp nhỏ và vừa) chuyển đổi xanh và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế; có cơ chế tín dụng ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp và nông ngư dân tiếp cận nguồn vốn trung và dài hạn để đầu tư công nghệ cao và phát triển bền vững.

Tăng cường đầu tư nghiên cứu khoa học, phát triển giống thủy sản chất lượng cao có khả năng thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu, đáp ứng yêu cầu về tăng trưởng, sức đề kháng và hiệu quả nuôi và thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp - người nuôi/ngư dân - cơ sở nghiên cứu - cơ quan quản lý nhằm phát triển chuỗi ngành hàng bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của thủy sản Việt Nam trên thị trường quốc tế là các đề xuất đề ngành thủy sản thực sự "vươn ra biển lớn" bền vững. 

“Sau hơn 5 năm triển khai Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngành thủy sản đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, đóng góp tích cực vào sự phát triển của kinh tế biển và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, đồng thời từng bước khẳng định vai trò là một trong những ngành kinh tế biển chủ lực của đất nước”, VASEP nhấn mạnh.  

Hồng Thắm
Nguồn: https://mae.gov.vn/thuy-san-viet-nam-kien-cuong-truoc-gio-nguoc-vuon-ra-the-gioi-21371.htm

popup

Số lượng:

Tổng tiền:

Email Gọi ngay Facebook
Facebook Chat Icon Xin chào!
Mình có thể giúp gì bạn
hiephoinuoibienvietnam