Từ dữ liệu đến hành động, chủ động bảo đảm an ninh nguồn nước

Chuyển đổi số mở ra những khả năng mới trong quản lý tài nguyên nước, vận hành hệ thống thủy lợi và phục hồi các dòng sông, góp phần nâng cao năng lực ứng phó với El Niño và biến đổi khí hậu.

Ngày 6/11, tại TP. HCM, Báo Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Cục Quản lý Tài nguyên nước (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tổ chức Hội thảo “An ninh nguồn nước trong bối cảnh El Niño và biến đổi khí hậu: Chuyển đổi số và phục hồi các dòng sông”.

Tham dự có đại diện các cơ quan quản lý thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường; các viện nghiên cứu, trường đại học; Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Hồ Chí Minh và các địa phương; các chuyên gia, nhà khoa học, tổ chức, hiệp hội, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài nguyên nước, thủy lợi, thủy điện, cấp nước cùng các cơ quan thông tấn, báo chí.

Rất đông đại biểu, phóng viên các cơ quan báo chí truyền thông tham dự Hội thảo 'An ninh nguồn nước trong bối cảnh El Niño và biến đổi khí hậu: Chuyển đổi số và phục hồi các dòng sông', chiều 6/11.
Rất đông đại biểu, phóng viên các cơ quan báo chí truyền thông tham dự Hội thảo “An ninh nguồn nước trong bối cảnh El Niño và biến đổi khí hậu: Chuyển đổi số và phục hồi các dòng sông”, chiều 6/11.

Hội thảo tạo diễn đàn trao đổi giữa cơ quan quản lý, các nhà khoa học, chuyên gia, địa phương và doanh nghiệp về 3 vấn đề lớn đang đặt ra cho công tác bảo đảm an ninh nguồn nước. Đó là bảo đảm an ninh nguồn nước trong điều kiện El Niño và biến đổi khí hậu; ứng dụng công nghệ số, dữ liệu và công cụ dự báo trong quản lý, điều hành nguồn nước; bảo vệ, cải thiện và phục hồi chất lượng nước, dòng chảy và hệ sinh thái sông.

Trước tác động của El Niño đang diễn ra, đồng bằng sông Cửu Long vừa phải bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất vừa phải chủ động thích ứng với hạn hán, xâm nhập mặn và những biến động của dòng chảy sông Mê Công. Tại Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, yêu cầu bảo đảm nguồn nước cho sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và phát triển đô thị cũng đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, đặc biệt trong mùa khô.

Tổng thuật: Hội thảo An ninh nguồn nước trong bối cảnh El Niño và biến đổi khí hậu

Không dừng lại ở bài toán bảo đảm đủ nước trước mắt, quản trị tài nguyên nước còn đòi hỏi cách tiếp cận tổng thể, gắn khai thác với bảo vệ, phục hồi nguồn nước và nâng cao khả năng thích ứng trước những biến động khó lường của khí hậu. Đặc biệt, việc khai thác hiệu quả dữ liệu và các công cụ công nghệ được kỳ vọng hỗ trợ cơ quan quản lý chủ động hơn trong điều hành nguồn nước, nâng cao khả năng ứng phó với những tình huống thiếu hụt nguồn nước.

Hội thảo cũng dành sự quan tâm đến vấn đề phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm tại một số hệ thống sông như Bắc Hưng Hải, Nhuệ - Đáy, Ngũ Huyện Khê. Những thách thức trong thực tiễn đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan quản lý, địa phương và các đơn vị liên quan, nhằm cải thiện chất lượng nguồn nước và khôi phục chức năng của các dòng sông.

Trong khuôn khổ chương trình, phiên tọa đàm với chủ đề “Từ dự báo nguồn nước đến phục hồi dòng sông: Quản trị nước bằng dữ liệu và hành động” sẽ là diễn đàn để các chuyên gia, nhà quản lý trao đổi sâu hơn về mối liên hệ giữa thông tin dự báo, dữ liệu quản lý và các quyết định điều hành thực tế. Qua đó, làm rõ yêu cầu chuyển từ cách tiếp cận ứng phó bị động sang quản trị nguồn nước chủ động, đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm đưa các quy định của Luật Tài nguyên nước vào thực tiễn.

Quý đại biểu vui lòng tham gia trực tuyến Diễn đàn qua nền tảng Zoom tại địa chỉ ID cuộc họp: 912 7191 2559. Mật mã: N2 hoặc tại LINK.

Tất cảTổng thuật

16h30

Chủ động nguồn nước để Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng hạn, mặn

Theo ThS. Trần Minh Tuấn (ảnh), Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Thủy nông và Cấp nước, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, bảo đảm nguồn nước cho Đồng bằng sông Cửu Long cần theo hướng thích nghi có kiểm soát, kết hợp hạ tầng thủy lợi với dự báo, vận hành linh hoạt và tổ chức sản xuất phù hợp.

quan-tri-nguon-nuoc-bang-du-lieu-chu-dong-ung-pho-el-nio-170139_734

Nằm cuối lưu vực sông Mekong, đồng bằng phụ thuộc lớn vào nguồn nước thượng lưu, đặc biệt trong mùa khô. Việc phát triển hồ chứa, chuyển nước, gia tăng sử dụng nước phía thượng nguồn, cùng tác động của biển, sụt lún đất và hạ thấp lòng dẫn đang làm thay đổi quy luật dòng chảy, xâm nhập mặn.

Ông Tuấn cho biết, tổng nhu cầu nước các ngành trong mùa khô, từ tháng 12 đến tháng 5, khoảng 15,3 tỷ m³, trong khi lượng nước đến trung bình khoảng 97 tỷ m³; ngay năm kiệt 2019-2020 vẫn đạt khoảng 55 tỷ m³. Tuy nhiên, cân bằng tổng lượng chưa phản ánh đầy đủ khả năng sử dụng, bởi xâm nhập mặn khiến nhiều khu vực có nước nhưng thiếu nước ngọt.

Dòng chảy đầu mùa khô giảm, kết hợp triều cao có thể khiến mặn đến sớm, vào sâu. Diễn biến mặn nhanh đòi hỏi dự báo kịp thời để tận dụng lúc xuất hiện nước ngọt, bổ sung vào hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất.

Về giải pháp, ông đề nghị nâng cao năng lực dự báo nguồn nước, xâm nhập mặn; khoanh vùng rủi ro, điều chỉnh mùa vụ theo khả năng cấp nước và mức độ kiểm soát của công trình. Đồng thời, rà soát quy trình vận hành liên hệ thống để các khu vực hỗ trợ, điều tiết nguồn nước cho nhau; hiện đại hóa giám sát, chuyển đổi số và cung cấp thông tin phục vụ quyết định vận hành.

Người dân xã Quới Thiện đào ao lót bạt trữ nước ngọt tưới sầu riêng. Ảnh: Minh Đảm.Người dân xã Quới Thiện đào ao lót bạt trữ nước ngọt tưới sầu riêng. Ảnh: Minh Đảm.
Người dân đào ao lót bạt trữ nước ngọt để chủ động tưới nước cho vườn cây ăn trái.

Hạ tầng cần tiếp tục được hoàn thiện, ưu tiên kết nối, chuyển nước từ vùng dồi dào nước ngọt đến nơi khan hiếm, nạo vét kênh trục và hoàn thiện thủy lợi nội đồng. Hệ thống kênh, rạch hiện có khả năng trữ khoảng 2,5-3 tỷ m³ nước, cần kết hợp với trữ nước trong mương vườn, ao, bể và trên ruộng phù hợp từng đối tượng sử dụng.

Về lâu dài, cần nghiên cứu công trình kiểm soát cửa sông lớn theo lộ trình, tạo điều kiện chủ động điều tiết mặn, ngọt, giảm rủi ro cho sản xuất và dân sinh.


16h00

El Niño 2026-2027 đe dọa an ninh nguồn nước khu vực phía Nam

El Niño 2026-2027 được dự báo làm gia tăng nguy cơ hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn tại khu vực phía Nam, đặc biệt là Đồng bằng sông Cửu Long.

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Hồng (cầm micro), Phó phân Viện trưởng Phân viện Khoa học KTTV, Môi trường và Biển, tác động cộng hưởng của El Niño và biến đổi khí hậu khiến lượng mưa trong mùa mưa năm 2026 tại một số lưu vực thiếu hụt khoảng 40%, kéo theo lượng dòng chảy giảm khoảng 30%, tùy từng lưu vực. Mùa mưa có xu hướng kết thúc sớm, làm hạn chế khả năng tích trữ nước ngọt và bổ cập nguồn nước dưới đất trước mùa khô 2026-2027.

Khi dòng chảy từ thượng nguồn sông Mê Công suy giảm, kết hợp triều cường và nhu cầu sử dụng nước gia tăng, xâm nhập mặn có nguy cơ lấn sâu vào nội đồng. Chất lượng nước tại các cửa lấy nước cũng có thể suy giảm do khả năng pha loãng chất ô nhiễm giảm.

Thông tin về kịch bản rủi ro cao, PGS.TS Nguyễn Văn Hồng cho biết: khoảng 350.000 ha lúa vụ đông xuân có thể bị ảnh hưởng do thiếu nước và xâm nhập mặn. Kinh nghiệm từ đợt hạn hán, xâm nhập mặn lịch sử năm 2015-2016 cho thấy yêu cầu cấp thiết phải chủ động ứng phó từ sớm, thay vì chờ đến khi thiếu nước mới triển khai giải pháp.

Để bảo đảm an ninh nguồn nước, cần tăng cường giám sát liên ngành, cập nhật diễn biến El Niño, theo dõi dòng chảy, mực nước hồ, độ mặn cửa sông và nguồn nước dưới đất. Các hồ Trị An, Dầu Tiếng, Phước Hòa cần được vận hành theo hướng đa mục tiêu, gắn với quản lý tổng hợp lưu vực và phối hợp sử dụng nguồn nước.

Trước mắt, cần ưu tiên bảo đảm nước sinh hoạt và nhu cầu thiết yếu của người dân; rà soát hệ thống cấp nước tập trung, chuẩn bị phương án cho vùng sâu, vùng ven biển, chủ động tích trữ và tổ chức lấy nước theo thủy triều.

Đồng thời, cần xem xét điều chỉnh lịch thời vụ, cơ cấu sản xuất và kiểm soát khai thác nước dưới đất nhằm giảm áp lực lên tài nguyên nước.Yêu cầu đặt ra là chuyển từ ứng phó khi hạn hán, xâm nhập mặn xảy ra sang chủ động quản trị rủi ro, dự báo và chuẩn bị phương án từ trước mùa khô.


15h25

Huy động nguồn lực xã hội để phục hồi sông, kênh, rạch

ThS. Nguyễn Viết Vũ, Trưởng phòng Tài nguyên nước, Khoáng sản và Biển đảo, Sở Nông nghiệp và Môi trường TP Hồ Chí Minh cho rằng, để phục hồi sông, kênh, rạch bền vững, cần đa dạng hóa nguồn lực đầu tư, kết hợp ngân sách nhà nước với huy động nguồn lực xã hội.

quan-tri-nguon-nuoc-bang-du-lieu-chu-dong-ung-pho-el-nio-160354_240
ThS. Nguyễn Viết Vũ chia sẻ về cách thức phục hồi sông, kênh, rạch bền vững.

Thực tiễn tại TP Hồ Chí Minh cho thấy, bên cạnh ngân sách dành cho công tác giải phóng mặt bằng, di dời người dân ven sông, thành phố đang nghiên cứu, triển khai các cơ chế như BT, đổi đất lấy hạ tầng để thu hút nhà đầu tư tham gia xây dựng hệ thống thu gom và nhà máy xử lý nước thải. Cách làm này vừa giảm áp lực cho ngân sách, vừa phát huy nguồn lực từ khu vực tư nhân.

Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò của cộng đồng doanh nghiệp thông qua các hình thức hợp tác công - tư (PPP), đồng hành cùng thành phố trong đầu tư, chỉnh trang đô thị và bảo vệ môi trường.

Đối với người dân, yếu tố quan trọng nhất là tạo sự đồng thuận, nhất là tại các khu vực phải giải phóng mặt bằng, di dời nhà ở, ảnh hưởng đến sinh kế. Các chính sách cần bảo đảm quyền lợi chính đáng của người dân, tạo sự chia sẻ trong quá trình chỉnh trang đô thị.

TP.HCM đặt mục tiêu xử lý dứt điểm ô nhiễm nước sông, kênh, suối trước năm 2026TP.HCM đặt mục tiêu xử lý dứt điểm ô nhiễm nước sông, kênh, suối trước năm 2026
TP.HCM đặt mục tiêu xử lý dứt điểm ô nhiễm nước sông, kênh, suối.

Đặc biệt, cần phát huy vai trò giám sát của cộng đồng sau khi công trình hoàn thành. Hiệu quả dự án không chỉ được đánh giá qua việc nghiệm thu, bàn giao mà phải thể hiện ở chất lượng môi trường nước và sự hồi sinh thực sự của dòng sông. Những phản ánh, giám sát của người dân sẽ là kênh phản biện độc lập, giúp cơ quan quản lý kịp thời phát hiện bất cập, ngăn ngừa tái ô nhiễm và bảo đảm hiệu quả lâu dài.


15h15

Cần ưu tiên thiết lập hệ thống thu thập, giám sát và chuẩn hóa dữ liệu

PGS.TS. Trần Đăng An cho rằng, để các công nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT) phát huy hiệu quả trong quản lý tài nguyên nước và phục hồi các dòng sông, trước hết phải xây dựng được nền tảng dữ liệu đầy đủ, chuẩn hóa và đáng tin cậy.

quan-tri-nguon-nuoc-bang-du-lieu-chu-dong-ung-pho-el-nio-154728_183
PGS.TS. Trần Đăng An cho rằng, cần ưu tiên thiết lập hệ thống thu thập, giám sát và chuẩn hóa dữ liệu để phát huy hiệu quả trong quản lý tài nguyên nước và phục hồi các dòng sông.

Theo ông, trước khi lựa chọn công nghệ, cần xác định chúng ta đang có những dữ liệu gì, chất lượng ra sao và có đáp ứng yêu cầu ứng dụng hay không. Công nghệ chỉ có thể hoạt động hiệu quả, mở rộng quy mô khi có đủ dữ liệu nền để phân tích, học hỏi và phục vụ thực tiễn. Nếu dữ liệu thiếu hoặc chưa được kiểm chứng, những cảnh báo, kết quả do hệ thống đưa ra có thể thiếu chính xác. Việc người ra quyết định sử dụng ngay các kết quả đó mà không kiểm định lại sẽ tiềm ẩn rủi ro.

Vì vậy, cần ưu tiên thiết lập hệ thống thu thập, giám sát và chuẩn hóa dữ liệu. PGS.TS. Trần Đăng An đề xuất Nhà nước tổ chức tổng điều tra về dữ liệu phục vụ quản lý tài nguyên nước và môi trường, qua đó tạo nền tảng cho việc ứng dụng công nghệ và nhân rộng các giải pháp trong thực tế. Dữ liệu cần được coi là một nguồn tài nguyên quan trọng, được chuẩn bị và quản lý bài bản.

Cùng với xây dựng dữ liệu, phải chú trọng đào tạo nhân lực. Các chương trình đào tạo về môi trường, cấp thoát nước và những lĩnh vực liên quan cần trang bị cho người học kiến thức, kỹ năng thu thập, chuẩn hóa và xử lý dữ liệu. Theo ông, con người vẫn là chủ thể chịu trách nhiệm cuối cùng về chất lượng dữ liệu và việc sử dụng kết quả phân tích, nên vai trò của công tác đào tạo cần được coi trọng.

Tại Trường Đại học Thủy lợi, nhiều hệ thống ứng dụng IoT, Big Data, Web GIS và GeoAI đang được triển khai để hỗ trợ quản lý tài nguyên nước, môi trường. Các sản phẩm đã được đưa lên sàn, song vấn đề đặt ra là kết nối dữ liệu như thế nào để khai thác hiệu quả.

Ông nhấn mạnh, Nhà nước cần có quy định chặt chẽ về kết nối và chia sẻ dữ liệu. Khi các hệ thống quan trắc, giám sát ngày càng nhiều, cơ chế chia sẻ dữ liệu càng phải được xây dựng kỹ lưỡng để các công nghệ có thể phát huy hiệu quả trong thực tiễn.


15h05

Phục hồi dòng sông là một quá trình quản lý, bảo vệ và tái tạo liên tục

Trả lời câu hỏi về đổi mới tư duy và phương thức quản lý để khôi phục sức sống lâu dài cho các dòng sông, ThS. Nguyễn Anh Tú cho biết, Luật Tài nguyên nước năm 2023 đã tạo ra một bước chuyển rất quan trọng khi xác định phục hồi nguồn nước không chỉ là cải thiện chất lượng nước mà còn phải cải thiện số lượng nước, khôi phục dòng chảy, chức năng nguồn nước và nâng cao các giá trị kinh tế, sinh thái, văn hóa, lịch sử gắn với nguồn nước. Đây được nhìn nhận như một quá trình tái thiết tổng thể, không chỉ về môi trường mà còn về không gian sinh thái, cảnh quan và các giá trị kinh tế - xã hội gắn với dòng sông.

quan-tri-nguon-nuoc-bang-du-lieu-chu-dong-ung-pho-el-nio-153139_412
ThS. Nguyễn Anh Tú cho rằng, phục hồi dòng sông là một quá trình quản lý, bảo vệ và tái tạo liên tục.

Ông cho rằng, cần có ba thay đổi cơ bản trong tuy duy và phương thức quản lý. Thứ nhất, chuyển từ xử lý ô nhiễm đơn lẻ sang phục hồi tổng thể cả dòng sông. Phải giải quyết đồng thời các vấn đề: kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm; khôi phục, duy trì dòng chảy; từng bước phục hồi hệ sinh thái và khả năng tự làm sạch và các chức năng của dòng sông.

Thứ hai, chuyển từ quản lý phân tán theo địa giới hành chính sang quản lý thống nhất theo lưu vực sông, cần có sự điều phối thống nhất từ thượng nguồn đến hạ nguồn, phân định rõ trách nhiệm của từng địa phương, từng ngành và từng đơn vị liên quan. Đặc biệt, phải có cơ chế chia sẻ dữ liệu, giám sát và xử lý nguồn thải xuyên suốt toàn lưu vực.

Thứ ba, chuyển từ tư duy tập trung đầu tư công trình, quản lý theo từng dự án, từng giai đoạn sang quản lý bằng kết quả, duy trì và bảo vệ dòng sông lâu dài. Lấy sự cải thiện chất lượng nước, khôi phục dòng chảy và hệ sinh thái làm thước đo; phục hồi phải gắn với kiểm soát nguồn thải, duy trì dòng chảy, cơ chế vận hành và nguồn lực lâu dài.

Ông Tú nhấn mạnh, phục hồi dòng sông không phải là một dự án xử lý ô nhiễm có điểm kết thúc, mà là một quá trình quản lý, bảo vệ và tái tạo liên tục.

Nhập chú thích ảnh
Tăng cường khơi thông kênh rạch nhằm phục hồi khả năng điều tiết nước tự nhiên của đô thị. Ảnh minh họa.

Các chuyên gia đều đồng tình, rằng phục hồi dòng sông cần được nhìn nhận là một quá trình tổng thể, liên tục, không chỉ dừng ở xử lý ô nhiễm mà phải đồng thời kiểm soát nguồn thải, khôi phục dòng chảy, hệ sinh thái và các giá trị cảnh quan gắn với dòng sông. Giải pháp cần được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu khoa học, đánh giá đặc điểm thủy văn và sức chịu tải của từng lưu vực, thay vì xử lý riêng lẻ từng đoạn sông.

Đặc biệt, cần đổi mới phương thức quản lý theo hướng điều phối thống nhất toàn lưu vực, xác định rõ trách nhiệm của các địa phương, ngành liên quan và gắn kết quả phục hồi với cơ chế giám sát, chia sẻ dữ liệu, nguồn lực lâu dài.


14h55

Phải nhìn nhận bài toán phục hồi trên góc độ tổng thể toàn lưu vực

Chia sẻ về cách tiếp cận để xác định giải pháp phục hồi phù hợp với từng dòng sông, PGS.TS. Trần Đăng An, Phó trưởng Bộ môn Kỹ thuật Tài nguyên nước và Môi trường, Phân hiệu Trường Đại học Thủy lợi cho rằng: Việc phục hồi các dòng sông đang bị ô nhiễm phải bắt đầu từ điều tra, nghiên cứu khoa học bài bản để làm rõ cơ chế phát sinh và lan truyền nguồn thải, thay vì vội vã đưa ra biện pháp xử lý bề nổi khi thấy sông bị ô nhiễm.

quan-tri-nguon-nuoc-bang-du-lieu-chu-dong-ung-pho-el-nio-152930_744
PGS.TS. Trần Đăng An (cầm micro), Phó trưởng Bộ môn Kỹ thuật Tài nguyên nước và Môi trường, Phân hiệu Trường Đại học Thủy lợi, chia sẻ về cách tiếp cận để xác định giải pháp phục hồi phù hợp với từng dòng sông.

Trước đây, Nhật Bản từng dành tới 30 năm nghiên cứu kỹ lưỡng cơ chế gây ô nhiễm tại vịnh Minamata trước khi có thể phục hồi toàn diện khu vực này. Với ô nhiễm nguồn ở đô thị, thực tiễn Việt Nam chỉ ra nguyên nhân phổ biến nhất là tình trạng phú dưỡng do ô nhiễm chất hữu cơ và dinh dưỡng từ nước thải sinh hoạt. Dấu hiệu điển hình chính là bèo lục bình phát triển bùng phát.

Do đó, cốt lõi phải tính toán được cơ chế tương quan giữa tổng tải lượng ô nhiễm xả ra với lưu lượng nước của hệ thống sông. Khi sông thiếu dòng chảy hòa trộn và không được thau rửa định kỳ, tải lượng chất bẩn sẽ dễ dàng vượt quá sức chịu tải và khả năng tự làm sạch tự nhiên của hệ sinh thái nước.

Tại TP. Hồ Chí Minh, mặc dù kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè đã được cải tạo hơn 10 năm, tình trạng ô nhiễm cục bộ đôi khi vẫn tái diễn do hệ thống gom nước thải chưa triệt để và mạng lưới cống đấu nối vẫn tiếp tục cần được hoàn thiện.

Tuy nhiên, kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè vẫn có điểm thuận lợi hơn sông Tô Lịch, sông Nhuệ, sông Đáy hay hệ thống Bắc Hưng Hải ở chỗ có dòng triều lên xuống giúp xáo trộn liên tục và cuốn trôi các khối nước ô nhiễm ra sông Sài Gòn rồi đổ ra biển; trong khi các hệ thống sông phía Bắc lại thiếu hẳn dòng thủy triều để tự lực xáo trộn.

Từ những phân tích trên, hướng tiếp cận đúng đắn là phải nhìn nhận bài toán phục hồi trên góc độ tổng thể toàn lưu vực với những đặc trưng thủy văn riêng biệt, chứ không thể xử lý đơn lẻ từng đoạn sông. Giải pháp căn cơ cần kết hợp đồng thời việc cắt giảm, xử lý nguồn xả thải tại gốc với việc khôi phục dòng chảy sinh thái, tái tạo cảnh quan và xây dựng không gian sống xanh hai bên bờ sông theo các bài học kinh nghiệm thành công của các đô thị trên thế giới.


14h45

Đẩy nhanh đầu tư xử lý nước thải đô thị

Chia sẻ về nguyên nhân gây ô nhiễm sông kênh, rạch trên địa bàn TP. HCM, ThS. Nguyễn Viết Vũ - Trưởng Phòng Tài nguyên nước, Khoáng sản và Biển đảo, Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.HCM cho biết, qua thực tiễn quản lý, có thể thấy nguyên nhân gây ô nhiễm sông, kênh, rạch trên địa bàn thành phố khá đa dạng. Tuy nhiên, có ba nguyên nhân chính cần tập trung giải quyết.

quan-tri-nguon-nuoc-bang-du-lieu-chu-dong-ung-pho-el-nio-152434_607
ThS. Nguyễn Viết Vũ (ngồi giữa) - Trưởng Phòng Tài nguyên nước, Khoáng sản và Biển đảo, Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.HCM - chia sẻ thông tin tại Hội thảo.

Thứ nhất, lượng nước thải đô thị, chủ yếu từ các hộ gia đình và sinh hoạt của người dân, còn rất lớn. Hiện nay, sau khi hợp nhất, mỗi ngày thành phố phát sinh hơn 3 triệu m³ nước thải. Trong khi đó, tỷ lệ nước thải đô thị được thu gom, xử lý mới đạt khoảng 19,5%, tức chưa đến 20%. Như vậy, phần lớn lượng nước thải vẫn chưa được thu gom, xử lý triệt để trước khi xả ra môi trường. Đây là nguyên nhân trực tiếp gây sức ép lên chất lượng nước các dòng sông, kênh, rạch.

Trong khi đó, đối với nước thải từ các cơ sở sản xuất, khu công nghiệp và ngành y tế, thành phố đã có công cụ quản lý, kiểm soát và yêu cầu xử lý. Tỷ lệ xử lý đối với các nguồn thải này hiện đạt 100%. Vì vậy, trọng tâm cần tập trung hiện nay là kiểm soát nước thải sinh hoạt đô thị.

Thứ hai, hệ thống thu gom nước thải chưa đồng bộ. Để xử lý hiệu quả nước thải đô thị, cần xây dựng mạng lưới thu gom hoàn chỉnh, từ các tuyến cống nhánh đến hệ thống cống bao dọc sông, kênh, rạch, sau đó dẫn về các nhà máy xử lý tập trung.

Tuy nhiên, hệ thống đường ống thu gom hiện nay vẫn còn thiếu và chưa đồng bộ. Có những khu vực nhà máy xử lý nước thải đã được xây dựng nhưng chưa có hệ thống đường ống thu gom để dẫn nước thải về xử lý. Điều này khiến công suất và hiệu quả khai thác các công trình chưa đạt như kỳ vọng.

Thứ ba, tiến độ đầu tư xây dựng các nhà máy xử lý nước thải còn chậm. Mặc dù thành phố đã có quy hoạch, chương trình giảm ô nhiễm môi trường và các kế hoạch hành động cụ thể, nhưng quá trình triển khai vẫn gặp nhiều khó khăn về nguồn lực tài chính, quỹ đất và công tác quy hoạch.

Toàn cảnh Nhà máy xử lý nước thải Nhiêu Lộc - Thị Nghè tháng 9.2026. Ảnh: Ban hạ tầng đô thị TPHCM
Toàn cảnh Nhà máy xử lý nước thải Nhiêu Lộc - Thị Nghè, tháng 9/2026. Ảnh: Ban hạ tầng đô thị TP.HCM.

"Theo tôi, đây là ba thách thức lớn tác động trực tiếp đến chất lượng môi trường nước trên địa bàn thành phố. Muốn cải thiện bền vững chất lượng sông, kênh, rạch, cần đẩy nhanh đầu tư các nhà máy xử lý nước thải, đồng thời hoàn thiện đồng bộ mạng lưới thu gom, đặc biệt là đối với nước thải sinh hoạt đô thị", ông Vũ nói.


14h35

Hiện đại hóa quản lý tài nguyên nước bằng nền tảng dữ liệu liên ngành

Tại phần trình bày về tích hợp đa ngành trong quản lý tài nguyên nước, ông Vũ Văn Thái (ảnh), Phó Giám đốc Trung tâm Dữ liệu thông tin phía Nam (Cục Chuyển đổi số), cho biết việc đổi mới phương thức quản lý cần bắt đầu từ kiến trúc dữ liệu, hạ tầng công nghệ và khả năng kết nối giữa các hệ thống chuyên ngành.

quan-tri-nguon-nuoc-bang-du-lieu-chu-dong-ung-pho-el-nio-150847_579

Theo ông Thái, hiện dữ liệu phục vụ quản lý tài nguyên nước vẫn còn phân tán, khác biệt về định dạng lưu trữ và thiếu cơ chế kết nối tự động. Nhiều quy trình nghiệp vụ còn thực hiện thủ công qua Word, Excel; dữ liệu từ địa phương chuyển lên Trung ương chủ yếu thông qua sao chép tệp. Trong khi thông tin từ các trạm quan trắc, hồ chứa thủy lợi và thủy điện chưa được kết nối đồng bộ theo thời gian thực.

Vì vậy, yêu cầu đặt ra là xây dựng nền tảng số tập trung, có khả năng kết nối từ Trung ương đến địa phương, đồng thời tích hợp dữ liệu giữa các lĩnh vực liên quan.Nền tảng số tài nguyên nước được đề xuất xây dựng với tổng mức đầu tư 50 tỷ đồng, do Cục Chuyển đổi số làm chủ đầu tư; Cục Quản lý Tài nguyên nước là đơn vị thụ hưởng và vận hành nghiệp vụ.

Dự án hướng tới hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia tập trung, chuẩn hóa danh mục và mã định danh, bảo đảm dữ liệu được quản lý thống nhất trên phạm vi cả nước.Một nguyên tắc quan trọng là thiết lập dữ liệu chủ đối với lưu vực sông và nguồn nước.

Theo đó, các hệ thống chuyên ngành và địa phương khi kết nối phải sử dụng mã định danh thống nhất, tránh tình trạng mỗi đơn vị xây dựng một hệ thống mã riêng, gây trùng lặp và khó đồng bộ.Việc xây dựng nền tảng cũng đặt trong khuôn khổ các quy định về tài nguyên nước, dữ liệu và giao dịch điện tử. Trong đó, Luật Tài nguyên nước năm 2023 và Nghị định 53/2024/NĐ-CP là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia và hệ thống thông tin tài nguyên nước.

Khi đi vào vận hành, các bên: Cục Chuyển đổi số chịu trách nhiệm xây dựng hạ tầng công nghệ, nền tảng và bảo đảm an toàn thông tin; Cục Quản lý Tài nguyên nước quản lý dữ liệu nghiệp vụ; các Sở Nông nghiệp và Môi trường cập nhật, khai thác dữ liệu tại địa phương. Doanh nghiệp khai thác tài nguyên nước có trách nhiệm đầu tư, vận hành trạm quan trắc và truyền dữ liệu theo yêu cầu trong giấy phép.


14h25

Hồi sinh kênh rạch TP.HCM cần đồng bộ thu gom và xử lý nước thải

Theo ThS. Nguyễn Viết Vũ (ảnh) - Trưởng Phòng Tài nguyên nước, Khoáng sản và Biển đảo, Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.HCM, hồi sinh sông, kênh, rạch phải khôi phục chất lượng môi trường nước, tạo không gian sống xanh, an toàn và có giá trị lâu dài cho cộng đồng. Kiểm soát ô nhiễm từ nguồn là điều kiện tiên quyết, bởi dòng nước dễ tái ô nhiễm nếu nước thải sinh hoạt vẫn đổ trực tiếp xuống kênh.

quan-tri-nguon-nuoc-bang-du-lieu-chu-dong-ung-pho-el-nio-145328_916

Dự án Nhiêu Lộc - Thị Nghè cho thấy hiệu quả của việc kết hợp thu gom nước thải, nạo vét, cải thiện dòng chảy, di dời nhà ven kênh và phát triển không gian công cộng. Tuyến kênh Tàu Hủ - Bến Nghé khẳng định hướng cải tạo tổng hợp, gắn môi trường nước với chỉnh trang đô thị, giao thông và chất lượng sống.

Qua thực tiễn, thành phố xác định cần coi sông, kênh, rạch là hạ tầng sinh thái, gắn khơi thông dòng chảy với bảo vệ hành lang nguồn nước, phát triển không gian xanh và thích ứng biến đổi khí hậu. Việc di dời phải đi đôi với tái định cư, sinh kế và sự đồng thuận. Các dự án cần đầu mối điều phối, tiến độ thống nhất và cơ chế quản lý, vận hành lâu dài sau đầu tư.

Áp lực lớn hiện nay của TP. HCM là tổng lượng nước thải đô thị cần xử lý trên địa bàn sau sắp xếp ước khoảng 1,97 triệu m³/ngày đêm, trong khi tỷ lệ thực tế được xử lý mới khoảng 19,5%. Một số nhà máy chưa khai thác hết công suất do thiếu mạng lưới thu gom.

quan-tri-nguon-nuoc-bang-du-lieu-chu-dong-ung-pho-el-nio-145438_899
Áp lực hiện nay của TP. HCM là tổng lượng nước thải đô thị cần xử lý trên địa bàn sau sắp xếp rất lớn. Ảnh minh họa.

Kế hoạch số 477/KH-UBND đặt mục tiêu đến năm 2030 thu gom khoảng 80% nước thải đô thị, nâng tỷ lệ thu gom, xử lý đạt chuẩn lên trên 70%. Danh mục gồm 9 dự án hệ thống thu gom và 14 dự án xử lý nước thải, tổng công suất thiết kế dự kiến khoảng 2,845 triệu m³/ngày đêm.

Thành phố ưu tiên hoàn thiện cống bao, trạm bơm, tuyến thu gom và điểm đấu nối tại lưu vực đã có nhà máy; xây dựng nhà máy đồng thời với mạng lưới thu gom. Cùng với đó là quản lý thống nhất theo lưu vực, kiểm soát nguồn xả, quan trắc và công khai chất lượng nước; kết hợp vốn đầu tư công với nguồn lực ngoài ngân sách, chuẩn bị quỹ đất và phương án vận hành để bảo đảm hiệu quả bền vững.


14h15

Cấp bách phục hồi các dòng sông

Theo ông Nguyễn Anh Tú (ảnh), Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ ra quyết định và Phát triển tài nguyên nước (Cục Quản lý tài nguyên nước), bảo đảm an ninh nguồn nước, phục hồi các dòng sông đang trở thành yêu cầu cấp thiết.

quan-tri-nguon-nuoc-bang-du-lieu-chu-dong-ung-pho-el-nio-144715_485

Lấy dẫn chứng từ các hệ thống sông Bắc Hưng Hải, Nhuệ - Đáy và Ngũ Huyện Khê ở miền Bắc đang đối mặt với tình trạng suy thoái nghiêm trọng, ông Tú chỉ ra: Nguyên nhân chính là lòng dẫn sông bị hạ thấp, khiến mực nước trên dòng chính sông Hồng mạnh. Điều này khiến các công trình lấy nước không còn khả năng lấy nước theo thiết kế, ảnh hưởng đến việc duy trì dòng chảy thường xuyên.

Trong khi đó, tốc độ đô thị hóa và phát triển công nghiệp, làng nghề làm gia tăng lượng nước thải, nhưng hạ tầng thu gom, xử lý chưa đáp ứng yêu cầu. Nguồn thải lớn trong khi dòng chảy suy kiệt khiến các dòng sông mất dần khả năng tự làm sạch.

Trước thực trạng này, đề án phục hồi các dòng sông được xây dựng trên cơ sở Luật Tài nguyên nước, Nghị quyết số 499/NQ-UBTVQH15 và Chỉ thị số 02/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ cùng các văn bản liên quan.

Định hướng xuyên suốt là tiếp cận liên ngành, đa mục tiêu, thuận theo tự nhiên. Công tác phục hồi không chỉ xử lý ô nhiễm mà còn tái cấu trúc không gian phát triển, kết hợp tiêu thoát nước, chống ngập úng, phát triển giao thông thủy, tạo lập các trục cảnh quan sinh thái ven sông và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hai con số.

Trước mắt, đề án tập trung đầu tư đồng bộ hệ thống xử lý nước thải tại các lưu vực. Về lâu dài, đề án nghiên cứu xây dựng 3 cụm đập dâng đa mục tiêu nhằm bổ sung nguồn nước cho các hệ thống sông. Các giải pháp nạo vét, khơi thông lòng dẫn, mở rộng hành lang thoát lũ cũng được triển khai song song. Hạ tầng quan trắc được hiện đại hóa thông qua nâng cấp 51 điểm hiện có và bổ sung 8 trạm quan trắc tự động, kết nối dữ liệu thời gian thực.

Hiện Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt đề án. Sau khi được thông qua, đây sẽ là cơ sở để các Bộ, ngành và địa phương cụ thể hóa nhiệm vụ. Theo ông Tú, sự đồng thuận và phối hợp chặt chẽ giữa các địa phương có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm nguồn nước là vấn đề mang tính toàn lưu vực, không thể giải quyết riêng lẻ ở từng địa phương hay từng đoạn sông. Đề án đã phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng địa phương, bảo đảm các giải pháp được triển khai đồng bộ, liên tục và phù hợp với điều kiện, nguồn lực thực tế.


14h00

Quản trị nguồn nước chủ động trước tác động của biến đổi khí hậu

Phát biểu khai mạc hội thảo, Phó Tổng biên tập Báo Nông nghiệp và Môi trường Lý Thị Hồng Điệp nhấn mạnh, bảo đảm an ninh nguồn nước là yêu cầu quan trọng, gắn trực tiếp với an ninh lương thực, an ninh năng lượng, sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế - xã hội.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, hiện tượng El Niño có thể làm gia tăng nguy cơ nắng nóng, giảm lượng mưa, hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn tại nhiều khu vực. Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên đang đối mặt nhiều thách thức trong bảo đảm nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất, nhất là vào mùa khô.

quan-tri-nguon-nuoc-bang-du-lieu-chu-dong-ung-pho-el-nio-142606_22

Phó Tổng biên tập Báo Nông nghiệp và Môi trường Lý Thị Hồng Điệp phát biểu khai mạc hội thảo.

 

Theo bà Lý Thị Hồng Điệp, an ninh nguồn nước không chỉ là bảo đảm đủ lượng nước mà còn phải bảo đảm chất lượng và khả năng chủ động ứng phó trước những biến động của tự nhiên. Do đó, cần chuyển từ tư duy ứng phó bị động sang quản trị chủ động; từ quản lý riêng lẻ theo ngành, địa giới hành chính sang quản lý tổng hợp theo lưu vực sông, dựa trên dữ liệu và dự báo khoa học.

Hội thảo nhằm tạo diễn đàn trao đổi giữa các cơ quan quản lý, nhà khoa học, chuyên gia, địa phương và doanh nghiệp, tập trung nhận diện những thách thức đối với an ninh nguồn nước; chia sẻ kinh nghiệm quản lý, vận hành và phân bổ nguồn nước; đồng thời đề xuất giải pháp ứng dụng chuyển đổi số trong giám sát, dự báo và điều hành tài nguyên nước.

Một nội dung trọng tâm được đặt ra là bảo vệ, phục hồi các dòng sông, kênh, rạch đang bị ô nhiễm, suy thoái và cạn kiệt. Theo đó, cần triển khai đồng bộ các giải pháp thu gom, xử lý nước thải, kiểm soát nguồn ô nhiễm, khơi thông dòng chảy và khôi phục hệ sinh thái.

Cùng với đó, ứng dụng quan trắc tự động, viễn thám, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo sẽ góp phần nâng cao năng lực dự báo hạn hán, xâm nhập mặn, hỗ trợ điều hành hồ chứa và phân bổ nguồn nước hiệu quả.

quan-tri-nguon-nuoc-bang-du-lieu-chu-dong-ung-pho-el-nio-143309_914
Ứng dụng khoa học công nghệ sẽ góp phần nâng cao năng lực dự báo, hỗ trợ điều hành hồ chứa và phân bổ nguồn nước hiệu quả. Ảnh minh họa.

Thông qua hội thảo, Ban tổ chức kỳ vọng tiếp nhận những đề xuất có giá trị khoa học và thực tiễn, kiến nghị chính sách, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị tài nguyên nước, thúc đẩy phục hồi các dòng sông và bảo đảm an ninh nguồn nước trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

popup

Số lượng:

Tổng tiền:

Email Gọi ngay Facebook
Facebook Chat Icon Xin chào!
Mình có thể giúp gì bạn
hiephoinuoibienvietnam