Hoàn thiện quyền tài sản, ưu đãi đầu tư và cơ chế hỗ trợ sẽ tạo động lực mới cho kinh tế biển.
Theo ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), điểm nghẽn lớn nhất hiện nay đối với kinh tế biển không phải là thiếu tiềm năng, mà là những rào cản về thể chế. Việc hoàn thiện chính sách về quyền tài sản trên biển, cơ chế ưu đãi và cải cách thủ tục hành chính sẽ quyết định khả năng thu hút các dự án quy mô lớn, tạo động lực hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững kinh tế biển theo tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW.

Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) đang đề xuất nhiều cơ chế hỗ trợ đặc thù nhằm thúc đẩy các ngành kinh tế biển chiến lược. Ảnh: Vũ Cường.
Cần mở rộng quyền cho doanh nghiệp khai thác biển
Theo ông Đậu Anh Tuấn, Việt Nam có hơn 3.200 km bờ biển với nhiều lợi thế để phát triển điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, logistics, cảng biển, dịch vụ hàng hải và du lịch biển. Tuy nhiên, tiềm năng này vẫn chưa được khai thác tương xứng do hệ thống chính sách chưa theo kịp yêu cầu phát triển.
Ông dẫn thực tế nhiều doanh nghiệp quan tâm đầu tư điện gió ngoài khơi nhưng còn băn khoăn về quyền đối với khu vực biển được giao, khả năng thế chấp quyền sử dụng khu vực biển để huy động vốn cũng như tính ổn định của chính sách trong suốt vòng đời dự án.
Không chỉ lĩnh vực năng lượng tái tạo, nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước cũng quan tâm phát triển nuôi biển công nghệ cao, hạ tầng lấn biển, khu kinh doanh dịch vụ trên biển và du lịch biển, đảo. Tuy nhiên, đầu tư trên biển có mức độ rủi ro cao, chi phí lớn, thời gian thu hồi vốn kéo dài và chịu tác động trực tiếp của thiên tai, biến đổi khí hậu.
Trong khi đó, các chính sách ưu đãi hiện hành chủ yếu được thiết kế cho các dự án trên đất liền nên chưa phản ánh đầy đủ đặc thù của kinh tế biển.
Theo đại diện VCCI, với các dự án có vòng đời đầu tư từ 20 đến 30 năm, nếu quyền tài sản trên biển chưa được xác lập rõ ràng thì các tổ chức tín dụng sẽ khó có cơ sở cấp vốn, còn doanh nghiệp cũng thiếu niềm tin để triển khai các dự án quy mô lớn.
Đánh giá cao việc Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), ông Đậu Anh Tuấn cho rằng việc bổ sung cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đặc thù là bước đi cần thiết nhằm cụ thể hóa chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế biển, đồng thời tạo nền tảng pháp lý để huy động hiệu quả nguồn lực xã hội.
Để chính sách phát huy hiệu quả, VCCI đề xuất bốn nhóm giải pháp trọng tâm. Trước hết, các chính sách ưu đãi phải thực sự vượt trội, minh bạch và ổn định để doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn.
Cùng với đó, cần xác lập đầy đủ quyền tài sản đối với khu vực biển. Khi doanh nghiệp được chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn hoặc thế chấp quyền sử dụng khu vực biển theo quy định của pháp luật thì khu vực biển mới thực sự trở thành nguồn lực kinh tế có thể huy động vốn phục vụ phát triển.
VCCI cũng kiến nghị đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tăng cường phối hợp liên ngành nhằm giảm chi phí thời gian và chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.
Đồng thời, các chính sách ưu đãi cần hướng tới phát triển kinh tế biển xanh, kinh tế tuần hoàn, ứng dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện môi trường và gắn với mục tiêu bảo tồn hệ sinh thái biển.
Thể chế hóa các cơ chế đặc thù hỗ trợ doanh nghiệp hướng biển
Ông Nguyễn Thanh Tùng, Phó Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam cho biết dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) đang đề xuất nhiều cơ chế hỗ trợ đặc thù nhằm thúc đẩy các ngành kinh tế biển chiến lược.
Ba nhóm hoạt động được đề xuất hưởng cơ chế ưu đãi gồm các dự án kinh tế biển xanh như điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao và logistics; các mô hình mới như khu đô thị lấn biển, khu kinh doanh, dịch vụ trên biển; cùng các hoạt động hỗ trợ phát triển kinh tế biển.
Theo dự thảo, các dự án trên biển có thể được hưởng mức ưu đãi tương đương các ngành nghề ưu đãi đầu tư đặc biệt hoặc dự án tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Một số chính sách tài chính được đề xuất gồm miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, giảm tiền sử dụng khu vực biển và tạo điều kiện tiếp cận các nguồn tài chính xanh.
Bên cạnh đó, nhiều thủ tục hành chính được đề xuất đơn giản hóa như giao khu vực biển không qua đấu giá trong một số trường hợp, chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời với chấp thuận nhà đầu tư.
Đáng chú ý, thời hạn giao khu vực biển được đề xuất kéo dài đến 70 năm, tạo điều kiện để các dự án quy mô lớn, có vòng đời đầu tư dài như điện gió ngoài khơi yên tâm triển khai.
Xác lập quyền sử dụng khu vực biển
Một trong những điểm mới đáng chú ý của dự thảo là bổ sung nhóm quy định về giao, cho thuê, đăng ký sử dụng khu vực biển và xác lập, ghi nhận quyền sử dụng khu vực biển.
Dự thảo làm rõ các hình thức xác lập, ghi nhận quyền sử dụng khu vực biển; các trường hợp giao, cho thuê, đăng ký sử dụng khu vực biển; trường hợp không phải giao, cho thuê, đăng ký; căn cứ và trường hợp từ chối giao, cho thuê, đăng ký sử dụng khu vực biển; đấu giá quyền sử dụng khu vực biển; thời hạn sử dụng; chế độ tài chính; giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển và hồ sơ hải chính.
Việc bổ sung những quy định này có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo lập cơ sở pháp lý rõ ràng cho các hoạt động đầu tư dài hạn trên biển. Khi quyền sử dụng khu vực biển được xác lập, ghi nhận minh bạch, doanh nghiệp sẽ có cơ sở pháp lý rõ hơn để xây dựng phương án đầu tư, tiếp cận nguồn vốn và triển khai dự án trong thời gian dài.
Đặc biệt, với những dự án như điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, cảng biển, logistics hay các mô hình kinh tế biển mới có vòng đời hàng chục năm, tính ổn định và khả năng dự báo của quyền sử dụng khu vực biển có ý nghĩa quyết định đối với quyết định đầu tư.
Không dừng ở việc xác lập quyền, dự thảo còn bổ sung quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân được giao, cho thuê, đăng ký sử dụng khu vực biển; sử dụng chung khu vực biển và sử dụng khu vực biển đa mục đích.
Đáng chú ý, dự thảo đặt ra các nguyên tắc về chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn, thế chấp quyền sử dụng khu vực biển; chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn bằng quyền sử dụng khu vực biển giữa tổ chức, cá nhân Việt Nam và cho nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Cùng với đó là các quy định về chuyển mục đích sử dụng khu vực biển, thu hồi quyền sử dụng khu vực biển, bồi thường, hỗ trợ và trách nhiệm khi Nhà nước thu hồi quyền sử dụng khu vực biển.
Những quy định này, nếu được hoàn thiện đồng bộ, sẽ góp phần làm rõ hơn địa vị pháp lý của quyền sử dụng khu vực biển, từng bước đưa khu vực biển trở thành một nguồn lực có thể được quản lý, khai thác và huy động phục vụ phát triển kinh tế.

Các chuyên gia nhận định, hoàn thiện thể chế, xây dựng cơ chế ưu đãi đủ mạnh và xác lập rõ quyền tài sản trên biển sẽ tạo bước đột phá trong huy động nguồn lực xã hội, góp phần đưa kinh tế biển trở thành động lực tăng trưởng mới, hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Ảnh: Thu Báu.
Tạo hệ sinh thái cho kinh tế biển mới
Không chỉ dừng ở các ưu đãi về tài chính, dự thảo còn tiếp cận theo hướng xây dựng một hệ sinh thái hỗ trợ phát triển kinh tế biển.
Theo đó, các chính sách được đề xuất bao gồm hỗ trợ trực tiếp cho dự án, mô hình, hoạt động được ưu tiên; hỗ trợ các không gian phát triển mới trên biển; đồng thời hỗ trợ gián tiếp thông qua dữ liệu, điều tra cơ bản, đào tạo, chuyển giao công nghệ, xúc tiến đầu tư và xúc tiến thương mại.
Đáng chú ý là các cơ chế dành cho nhà đầu tư chiến lược, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ biển; cơ chế thử nghiệm có kiểm soát; tài chính biển xanh; tạo lập quỹ không gian biển; phối hợp liên ngành và hỗ trợ cộng đồng ven biển, hải đảo.
Cách tiếp cận này cho thấy chính sách phát triển kinh tế biển đang được mở rộng từ việc hỗ trợ từng dự án sang xây dựng một hệ sinh thái, trong đó Nhà nước tạo lập không gian, dữ liệu, hạ tầng, cơ chế và điều kiện để doanh nghiệp tham gia đầu tư, đổi mới sáng tạo và phát triển các mô hình kinh tế biển mới.

Chính sách phát triển kinh tế biển đang được mở rộng từ việc hỗ trợ từng dự án sang xây dựng một hệ sinh thái, trong đó Nhà nước tạo lập không gian, dữ liệu, hạ tầng, cơ chế và điều kiện để doanh nghiệp tham gia đầu tư, đổi mới sáng tạo và phát triển các mô hình kinh tế biển mới. Ảnh: Vũ Cường.
Dự thảo cũng bổ sung, hoàn thiện giải thích các thuật ngữ mới phục vụ quản lý những nội dung phát triển mới như khu vực biển, khu vực biển liên vùng, khu vực ngoài quyền tài phán quốc gia; kinh tế biển mới, kinh tế biển xanh, kinh tế carbon thấp, nước dằn tàu và hiện tượng phú dưỡng.
Việc bổ sung các khái niệm này không chỉ nhằm hoàn thiện kỹ thuật lập pháp mà còn tạo cơ sở pháp lý để nhận diện, quản lý những mô hình kinh tế biển đang hình thành trong quá trình chuyển đổi xanh và chuyển đổi năng lượng.
Trong đó, kinh tế biển mới, kinh tế biển xanh và kinh tế carbon thấp có thể trở thành nền tảng để phát triển những lĩnh vực như điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, logistics xanh, dịch vụ biển hiện đại và các mô hình khai thác đa mục đích không gian biển.
Các chuyên gia nhận định, hoàn thiện thể chế, xây dựng cơ chế ưu đãi đủ mạnh và xác lập rõ quyền tài sản trên biển sẽ tạo bước đột phá trong huy động nguồn lực xã hội, góp phần đưa kinh tế biển trở thành động lực tăng trưởng mới, hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
Trường Giang - Vũ Cường
Nguồn: https://mae.gov.vn/xay-dung-quoc-gia-bien-manh-khoi-thong-nguon-luc-tao-dong-luc-moi-22630.htm