Muốn làm chủ không gian biển, khoa học và công nghệ phải đi trước

Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra một yêu cầu mới: Việt Nam phải chuyển từ vị thế “có biển, khai thác biển”, nghiên cứu về biển sang từng bước làm chủ tri thức, dữ liệu, công nghệ và không gian phát triển biển. Để làm được điều đó, khoa học và công nghệ phải trở thành năng lực nền tảng, quản trị biển và mở ra những không gian phát triển mới.

gian-tam-dao-03hoat-dong-tren-mo-bh.jpg
Giàn Tam Đảo 03 hoạt động trên mỏ Bạch Hổ. Ảnh: Vietsovpetro

Từ “có biển” đến năng lực làm chủ

Việt Nam có biển, có hệ thống nghiên cứu về biển, có nhiều năm điều tra, khai thác và phát triển kinh tế biển. Nhưng giữa việc có biển và làm chủ không gian biển vẫn còn một khoảng cách lớn, trước hết nằm ở tri thức và dữ liệu.

Biển là một không gian phát triển liên thông, nhiều tầng, từ mặt nước, cột nước đến đáy biển, lòng đất dưới đáy biển; gắn với vùng ven biển, hải đảo, hệ sinh thái, tài nguyên, hạ tầng và các hoạt động kinh tế - xã hội. Muốn quản trị không gian ấy, không thể chỉ dựa vào dữ liệu của từng ngành, từng địa phương. Những dữ liệu về điều tra cơ bản, địa chất, tài nguyên, môi trường, hệ sinh thái, quan trắc, hạ tầng và hoạt động kinh tế biển phải được kết nối để hình thành một bức tranh thống nhất về biển.

TS Trần Quốc Cường, Vụ Khoa học Xã hội và Tự nhiên, Bộ Khoa học và Công nghệ, cho rằng một trong những yêu cầu mới của Nghị quyết số 20-NQ/TW là chuyển từ tư duy khai thác sang quản trị biển hiện đại; trong đó khoa học, công nghệ, dữ liệu và đổi mới sáng tạo phải trở thành nền tảng của quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia.

tqc.jpg
TS Trần Quốc Cường, Vụ Khoa học Xã hội và Tự nhiên, Bộ Khoa học và Công nghệ. Ảnh: MH

Tuy nhiên, hiện nay các dữ liệu biển còn phân tán; hạ tầng nghiên cứu, khảo sát và quan trắc biển sâu còn thiếu; năng lực công nghệ trong điều tra, giám sát, thiết bị dưới nước, nghiên cứu biển sâu, năng lượng ngoài khơi, công nghệ sinh học biển... chưa đáp ứng yêu cầu làm chủ. Hệ thống tổ chức nghiên cứu cũng chưa tiếp cận đủ liên ngành và gắn với các không gian biển.

Nếu vẫn tiếp tục tổ chức nghiên cứu theo từng ngành, từng nhiệm vụ riêng lẻ, kết quả có thể là thêm những báo cáo, công trình, mô hình thử nghiệm, nhưng chưa chắc tạo được năng lực quốc gia tương ứng. Bởi vậy, yêu cầu “làm chủ biển” trước hết phải được cụ thể hóa thành câu hỏi: Việt Nam cần làm chủ những tri thức nào, những dữ liệu nào và những công nghệ nào để có thể hiểu, dự báo, quản trị và phát triển không gian biển?

Đây cũng là điểm khác căn bản giữa nghiên cứu về biển với xây dựng năng lực làm chủ biển.

bt.jpg
Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân tại Viện Hải dương học Nha Trang. Ảnh: MH

Theo Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân, trọng tâm trong thời gian tới phải là xây dựng năng lực khoa học, công nghệ đủ mạnh để làm chủ tri thức, dữ liệu và công nghệ biển. Trong đó, dữ liệu biển phải được xem là hạ tầng chiến lược; còn công nghệ phải chuyển từ chỗ chủ yếu tiếp nhận, ứng dụng sang nghiên cứu, tiếp nhận, hấp thụ, làm chủ, chuyển giao và phát triển.

Tạo năng lực để giải những bài toán lớn của biển

Để chuyển yêu cầu đó thành năng lực thực tế, Bộ Khoa học và Công nghệ phải tạo được một cách tổ chức mới, trong đó bài toán lớn của biển dẫn dắt nghiên cứu, công nghệ, dữ liệu và nguồn lực.

Theo Bộ trưởng Vũ Hải Quân, cần chuyển cách đánh giá từ số lượng nhiệm vụ, báo cáo hay sản phẩm nghiên cứu sang những gì thực sự được làm chủ: Công nghệ nào, sản phẩm nào và năng lực quốc gia nào được hình thành.

bt4.jpg
Bộ trưởng Vũ Hải Quân (phải) trao đổi về phát triển biển tại Viện Hải dương học Nha Trang. Ảnh: MH

Đó là lý do việc xây dựng một số tổ chức nghiên cứu biển mạnh có ý nghĩa lớn hơn một chỉ tiêu về số lượng. Chương trình hành động của Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2030 hình thành 2-3 tổ chức nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về biển đạt trình độ các nước dẫn đầu ASEAN. Nhưng phía sau con số này phải là đội ngũ chuyên gia mạnh, hạ tầng hiện đại, năng lực nghiên cứu liên ngành, khả năng làm chủ công nghệ và sức giải quyết những bài toán lớn của đất nước.

Nếu có tổ chức mạnh mà không có những bài toán đủ lớn để tổ chức ấy giải quyết, năng lực sẽ khó được kiểm chứng. Ngược lại, nếu có nhiều nhiệm vụ công nghệ nhưng thiếu những tổ chức đủ sức theo đuổi đến cùng, kết quả cũng khó chuyển thành năng lực lâu dài.

Vì thế, Bộ Khoa học và Công nghệ cần đặt hai việc này trong cùng một bài toán: Xây dựng lực lượng nghiên cứu mạnh và giao cho lực lượng ấy những nhiệm vụ đủ lớn để tạo ra năng lực làm chủ công nghệ.

Cách làm này cũng đòi hỏi thay đổi cách lựa chọn nhiệm vụ khoa học, công nghệ biển. Thay vì dàn trải, cần tập trung vào một số bài toán lớn, liên ngành, có sản phẩm cụ thể và có khả năng tạo tác động lâu dài. Những vấn đề như: Điều tra, nghiên cứu biển sâu; thiết bị và phương tiện dưới nước; giám sát, quan trắc và dự báo biển; công nghệ biển phục vụ năng lượng ngoài khơi, nuôi biển, công nghệ sinh học biển hay các công nghệ có khả năng sử dụng kép đều cần được đặt trong những chương trình đủ quy mô để đi từ nghiên cứu đến làm chủ công nghệ.

gian-khai-thac-mo-su-tu-trang.jpg
Giàn khai thác mỏ Sư Tử Trắng. Ảnh: Vietsovpetro

Cùng với đó, kết nối nhà nước - viện, trường - doanh nghiệp - địa phương thành một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo về biển. Doanh nghiệp cần tham gia từ lúc xác định bài toán, đặt hàng, đồng tài trợ, thử nghiệm đến thương mại hóa. Các địa phương ven biển không chỉ là nơi tiếp nhận kết quả nghiên cứu, mà phải tham gia xác định nhu cầu và tạo môi trường thử nghiệm. Nhà nước có cơ chế đặt hàng lớn, đồng tài trợ, thử nghiệm và chia sẻ rủi ro phù hợp với đặc thù nghiên cứu công nghệ biển.

Trong cấu trúc đó, dữ liệu trở thành một mắt xích quan trọng. Bộ Khoa học và Công nghệ cùng các cơ quan liên quan có vai trò kết nối, tích hợp và khai thác dữ liệu biển; phát triển bản đồ số, mô hình hóa, quan trắc thông minh và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản trị biển. Khi dữ liệu được kết nối với nghiên cứu và công nghệ, giá trị của các nhiệm vụ khoa học không chỉ nằm ở việc tạo thêm thông tin, mà còn ở khả năng phục vụ dự báo, ra quyết định và phát triển sản phẩm mới.

Nghị quyết số 20-NQ/TW vì thế đặt ngành khoa học và công nghệ trước một yêu cầu rộng hơn một chương trình nghiên cứu biển. Đó là xây dựng năng lực quốc gia để làm chủ một không gian phát triển mới.

Từ điều tra cơ bản đến dữ liệu, công nghệ, sản phẩm, năng lực quản trị và phát triển kinh tế biển - các khâu này chỉ phát huy giá trị khi được kết nối trong một chỉnh thể.

Khi đó, sức mạnh của một quốc gia biển không chỉ được nhìn từ quy mô khai thác hay kinh tế biển, mà còn ở khả năng hiểu biển, dự báo biển, quản trị biển và làm chủ những công nghệ tạo ra các không gian phát triển mới trên biển.

Nguồn: https://hanoimoi.vn/muon-lam-chu-khong-gian-bien-khoa-hoc-va-cong-nghe-phai-di-truoc-1757268.html

popup

Số lượng:

Tổng tiền:

Email Gọi ngay Facebook
Facebook Chat Icon Xin chào!
Mình có thể giúp gì bạn
hiephoinuoibienvietnam